jeudi 6 mars 2014

LỊCH SỬ : Chiến tranh Đông Dương (1946 – 1954)


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận

Bạn có thể bấm vào đây để xem tài liệu mới cập nhật. 




Khái niệm Chiến tranh Đông Dương, tùy theo các quan điểm khác nhau, có thể nói đến 4 cuộc chiến tranh đã diễn ra tại Đông Dương trong thế kỷ 20 nhưng chỉ có hai trận chiến đầu được gọi là chiến tranh Đông Dương lần 1 và 2. Sự định hướng này có mục đích chỉ hướng đến một số bài có liên quan khác :

1. Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất, hay Chiến tranh Đông Dương (1946-1954)

2. Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai, hay Chiến tranh Việt Nam (1954-1975)

3. Chiến dịch phản công biên giới Tây-Nam Việt Nam

4. Chiến tranh biên giới Việt-Trung, 1979



Chiến tranh Đông Dương (Indochina War - Guerre d'Indochine), ở Việt Nam được gọi là Kháng chiến chống Pháp,  là cuộc chiến diễn ra tại Đông Dương thuộc Pháp từ ngày 19 tháng 12 năm 1946 tới 1 tháng 8 năm 1954, giữa một bên là quân viễn chinh và lê dương Pháp (foreign Legion – Légion étrangère) cùng các lực lượng đồng minh bản xứ bao gồm lực lượng của Quốc gia Việt Nam (Quốc trưởng là cựu hoàng Bảo Đại), Vương quốc Lào, Vương quốc Campuchia, trong Liên bang Đông Dương, bên kia là lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ở Việt Nam được gọi là Việt Minh) cùng các lực lượng kháng chiến khác của Lào và Campuchia.




Đây là giai đoạn đầu tiên trong cuộc kháng chiến chống Pháp 30 năm của Việt Minh với mục tiêu giành độc lập cho Việt Nam (giai đoạn 2 là cuộc chiến với Hoa Kỳ 1955-1975). Cuộc chiến diễn ra trên khắp Việt Nam và lan ra cả các nước láng giềng Lào và Campuchia, nhưng chiến sự chính diễn ra chủ yếu tại miền Bắc Việt Nam. Sau 9 năm sa lầy và với thất bại tại trận Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải chấp nhận ký kết Hiệp định Genève trao trả độc lập cho Việt Nam.

Cuộc chiến tranh này ở Việt Nam còn được gọi là Chiến tranh chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (do sau năm 1949 đa số chiến phí của Pháp là do Hoa Kỳ viện trợ). Các tài liệu nghiên cứu, sách báo ở nước ngoài phần lớn gọi là Chiến tranh Việt-Pháp hoặc Chiến tranh Đông Dương.

Pháp tham gia cuộc chiến này thời gian đầu với lý do vì ý muốn giữ Đông Dương là Liên bang Đông Dương (Union Indochinoise : Việt -Miên-Lào) tự trị trong Liên hiệp Pháp mới được thành lập, theo tuyên bố ngày 24 tháng Ba năm 1945 của Chính phủ lâm thời Charles de Gaulle và sau quy định trong Hiến pháp 1946, sau khi người Nhật đã bại trận và mất quyền kiểm soát Đông Dương. Đây là lý do chính trị và tâm lý hơn là kinh tế. Những người Pháp ủng hộ cuộc chiến cho rằng nếu Pháp để mất Đông Dương, sở hữu của Pháp hải ngoại sẽ nhanh chóng bị mất theo. Đa số lãnh đạo Pháp cho rằng so với một cuộc xâm chiếm thuộc địa (colonial) cổ điển với việc chiếm giữ các trung tâm dân số và mở rộng dần theo kiểu "vết dầu loang" mà người Pháp đã thực hiện rất thành công ở Maroc và Algérie, cuộc chiến này sẽ chỉ có quy mô hơn một chút. Tuy nhiên, mặc dù Pháp chiếm ưu thế quân sự trong thời gian đầu, lực lượng Việt Minh đã phát triển ngày càng mạnh và kiểm soát được nhiều vùng lãnh thổ ngày càng rộng.

Trong khi đó, mục tiêu của Việt Minh và các nhóm kháng chiến khác là giành độc lập cho dân tộc mình. Cuộc chiến giữa một cường quốc trên thế giới và một đất nước nghèo nàn lạc hậu đã diễn.

Sau Đệ nhị thế chiến bắt đầu từ năm 1937/1939 và chấm dứt vào năm 1945 (Đệ nhất thế chiến diễn ra từ tháng 8 năm 1914 đến tháng 11 năm 1918) giữa các lực lượng Đồng Minh Liên Xô - Hoa-Kỳ - Liên Hiệp Anh và khối Trục Đức - Ý - Nhật Bản, trên lãnh thổ của Pháp đã bùng nổ nhiều phong trào đòi độc lập, nhưng thất bại mở màn gây hiệu ứng dây chuyền và thiệt hại lớn nhất cho Pháp là Chiến tranh Đông Dương.


Sau đây là bản tóm lược của Chiến tranh Đông dương :





Lịch sử

Vào thời Pháp thuộc


Quân Pháp tấn công quân Thanh ở Lạng Sơn vào ngày 13/02/1885


Năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ vào cảng Đà Nẵng và sau đó xâm chiếm Sài Gòn.

Năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng Sài Gòn và ba tỉnh lân cận cho Pháp.

Năm 1869, Pháp chiếm nốt ba tỉnh kế tiếp để tạo thành một lãnh thổ thực dân Cochinchine (Nam kỳ).

Đến năm 1885, Pháp xâm chiếm xong những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở miền Bắc. Theo chính sách "Chia để trị", Pháp chia Việt Nam thành 3 phần Bắc - Trung - Nam kỳ. Pháp tuyên bố là họ sẽ trực tiếp kiểm soát Nam Kỳ, trong khi "bảo hộ" Bắc kỳ và Trung kỳ (nơi triều đình bù nhìn nhà Nguyễn được Pháp cho tiếp tục "cai trị"). Trong suốt thời kỳ từ khi Pháp bắt đầu xâm chiếm Việt Nam, đã có nhiều cuộc khởi nghĩa và phong trào chống Pháp do vua, quan, hoặc nông dân tổ chức, nhưng tất cả đều bị thất bại.


Nguyễn Thái Học (1902-1930)


Năm 1927, những người Việt cấp tiến đã thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng (được gọi tắt là Việt Quốc, Nguyễn Thái Học là người thành lập tại Hà Nội do sáng lập). Mục tiêu của Đảng là :

Làm một cuộc cách mạng quốc gia, dùng võ lực đánh đổ chế độ thực dân phong kiến, để lập nên một nước Việt Nam Độc lập Cộng hòa. Đồng thời giúp đỡ các dân tộc bị áp bức trong công cuộc tranh đấu giành độc lập của họ, đặc biệt là các lân quốc: Ai Lao, Cao Miên.




Đến năm 1930, sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, Việt Nam Quốc dân Đảng bị suy yếu nghiêm trọng. Cùng năm, những người Việt theo chủ nghĩa Marx-Lenin thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương (đại biểu của giai cấp công nhân, người lao động và lấy chủ nghĩa Marx-Lenin / Marxism-Leninism và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng), nhưng cũng mau chóng trở thành mục tiêu tiêu diệt của Pháp, khi bùng nổ cao trào cách mạng năm 1930-1931, và sau này mặc dù tổ chức của họ thân thiện với Mặt trận Bình dân trong chính quyền Pháp.


Trong Chiến tranh thế giới thứ hai




Năm 1940, Nhật tấn công Đông Dương và nhanh chóng thỏa thuận được với chính quyền Vichy ở Pháp (Thống chế Philippe Pétain thành lập chính phủ này  để hợp tác với Phát xít Đức  từ tháng 7 năm 1940 đến tháng 8 năm 1944 trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai) để Nhật toàn quyền cai trị Đông Dương. Pháp chỉ tồn tại đến tháng 3 năm 1945 khi Nhật lật đổ Pháp trên toàn bộ Đông Dương. Ngay sau đó, Nhật bảo trợ thành lập chính phủ Việt Nam do quốc trưởng Bảo Đại (1913-1997) đứng đầu với thủ tướng là Trần Trọng Kim (1883 – 1953). Cũng như các chính phủ khác ở những vùng bị Nhật chiếm đóng (Mãn Châu quốc, Triều Tiên, Chính phủ Uông Tinh Vệ...), chính phủ này không có thực quyền khi tài chính và nhân lực đều do quân Nhật nắm giữ.

Năm 1941, Hồ Chí Minh thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (viết tắt là Việt Minh) với vai trò một mặt trận thống nhất để giành độc lập. Tổ chức này do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo.

Tháng 12 năm 1944, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, lực lượng vũ trang của Việt Minh và tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập tại Cao Bằng. Khẩu hiệu ban đầu của Việt Minh là phản Pháp - kháng Nhật - liên Hoa - độc lập

Ban đầu lực lượng Việt Minh nhận được sự ủng hộ của phe Đồng minh, bao gồm cả Mỹ và Trung Quốc. Hồ Chí Minh nhận thấy Mỹ đang muốn đóng vai trò lớn hơn ở khu vực Thái Bình Dương, ông đã làm tất cả để thiếp lập mối quan hệ với Hoa Kỳ thông qua việc giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản. Đổi lại, cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS (U.S Office of Strategic Services) giúp đỡ y tế, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt Minh.

Từ tháng 3 năm 1945, Việt Nam rơi vào một tình trạng hỗn loạn do khoảng trống về quyền lực chính trị quá lớn. Người Nhật đang lo chống đỡ các đòn tấn công của quân đội đồng minh Anh-Mỹ. Cả chính phủ của Trần Trọng Kim lẫn triều đình của Bảo Đại đều không đủ lực lượng quân sự và uy tín chính trị để kiểm soát tình hình. Chiến tranh đã làm kiệt quệ nền kinh tế, nước Nhật cạn kiệt nguyên liệu nên quân Nhật chiếm lấy lúa gạo và các sản phẩm khác, bắt dân phá lúa trồng đay để phục vụ chiến tranh, cộng thêm thiên tai và nạn đói năm Ất Dậu đã xảy ra tại miền Bắc Việt Nam trong khoảng từ tháng 10 năm 1944 đến tháng 5 năm 1945 làm khoảng từ 400.000 đến 2 triệu người dân chết đói.

Ngày 11 tháng 3 năm 1945 Vua Bảo Đại tuyên bố độc lập, thu hồi chủ quyền trên danh nghĩa ở ba miền Bắc - Trung - Nam, tiếp sau đó là Campuchia ngày 13 tháng 3 và Lào ngày 8 tháng 4. Trong tuyên bố của Bảo Đại, bãi bỏ các hiệp ước bảo hộ và mất độc lập với Pháp trước đây, độc lập theo tuyên ngôn Đại đông Á, và ông cũng như Chính phủ Việt Nam tin tưởng lòng trung thực của Nhật Bản và nó được xác định làm việc với các nước để đạt được mục đích.

Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Bảo Đại ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim.

Ngày 12 tháng 5 năm 1945 giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ.

Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Việt Nam.




Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Trần Trọng Kim tuyên bố bảo vệ độc lập giành được 9 tháng 3 năm 1945, và ngày 18 tháng 8 năm 1945 tạo ra một ủy ban giải phóng dân tộc, nhóm tất cả các đảng phái chính trị để lãnh đạo cuộc chiến này. Theo lời khuyên của ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bảo Đại gửi thông điệp cho Tổng thống Mỹ Harry S. Truman (1884–1972), vua nước Anh George VI (1895–1952), Thống chế Tưởng Giới Thạch (1887-1975), Tướng Charles de Gaulle đề nghị công nhận độc lập của Việt Nam. Tuy nhiên đến 24 tháng 8 Trần Trọng Kim đã thực hiện câu trả lời Hội đồng Cơ mật quyết định thoái vị để không phải là một trở ngại cho sự giải phóng của đất nước.

Ngày 18 tháng 8 năm 1945, vua Bảo Đại đã xác nhận độc lập của Việt Nam sau khi Nhật đầu hàng, được công bố vào tháng 3 tháng 8 năm 1945 và đồng thời gửi một thông điệp đến Tướng Charles De Gaulle yêu cầu công nhận nền độc lập của Việt Nam. Thông điệp này cho rằng sự độc lập của Việt Nam chỉ có nghĩa là bảo vệ lợi ích của Pháp và ảnh hưởng tinh thần Pháp ở Đông Dương.


Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Việt Minh) được thành lập




Ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh, lực lượng Việt Minh đã tổ chức thành công cuộc Cách mạng tháng Tám.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố tên gọi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng có sự thanh trừng chính trị ở cấp địa phương hay loại bỏ chủ nghĩa tư bản, chia sẻ đất, tịch thu tài sản của những người giàu.


Pháp quay trở lại Đông Dương

Ngày 6 tháng 9 năm 1945, ở miền Nam phái bộ quân sự Anh đã có mặt ở Sài Gòn, theo sau là liên quân Anh-Pháp. Quân Anh theo lệnh Đồng Minh vào giám sát quân Nhật đầu hàng nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho quân Pháp vào Nam Bộ. Chính phủ lâm thời của Cộng hòa Pháp muốn khôi phục lãnh thổ Đông Dương với cơ chế tự trị.

Ngày 19 tháng 9 năm 1945, Pháp tuyên bố sẽ lập chính quyền tại miền Nam.




Ngày 23 tháng 9 năm 1945, với sự giúp đỡ của quân Anh, quân Pháp nổ súng chiếm quyền kiểm soát Sài Gòn (ngày này sau được Việt Nam gọi là ngày Nam Bộ Kháng chiến). Nước Việt Nam vừa giành được độc lập đã phải đối đầu với quân đội nước ngoài. Cựu hoàng Duy Tân (1900-1945) sau khi được Tướng Charles De Gaulle đồng ý trở lại Việt Nam trên cương vị Hoàng đế, đưa ra đề xuất thẳng thừng đòi hỏi sự thống nhất của ba miền Bắc-Trung-Nam, nền độc lập của đất nước thông qua thời gian, liên kết cần thiết và hữu cơ giữa Việt Nam, Campuchia và Lào.

Ngày 25 tháng 9 năm 1945, ở Tân Định (Sài Gòn), khoảng 300 người Pháp bao gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị bắt cóc và một nửa trong số họ bị giết.

Ngày 9 tháng 10 năm 1945, Anh chấp thuận Pháp là cơ quan duy nhất ở Đông Dương về phía nam vĩ tuyến 16. Tướng Pháp Leclerc đến Sài Gòn, theo ông là lực lượng gồm 40.000 quân Pháp để chiếm giữ miền Nam Việt Nam và Campuchia.

Từ cuối tháng 9 năm 1945, các đoàn quân Việt Minh bắt đầu lên đường vào Nam chống Pháp. Các tướng lĩnh quan trọng như Nguyễn Bình, Nguyễn Sơn... được cấp tốc cử vào Nam. 

Từ cuối tháng 10, quân Pháp bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch phá vây, mở rộng đánh chiếm ra vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ.

Ngày 4 tháng 12 năm 1945, với mong muốn đất nước thống nhất và độc lập trong một thời gian ngắn, cựu hoàng Duy Tân đã có cuộc đàm phán với Tướng Charles De Gaulle, mong muốn lá cờ Pháp và cờ ba màu và ba thanh đại diện ba kỳ sẽ bay ở Việt Nam.

Ngày 24 tháng 12 năm 1945, máy bay chở Duy Tân gặp nạn tại Trung Phi, những người đi trên máy bay đều thiệt mạng.

Ngày 7 tháng 1 năm 1946, Pháp và Vương quốc Campuchia ký hiệp ước chấp thuận Vương quốc Campuchia là quốc gia tự trị, thành viên Liên hiệp Pháp. Một hiệp ước tương tự được ký với Vương quốc Lào ngày 27 tháng 8.


Thành lập Chính phủ Liên hiệp




Sau một số xung đột, Việt Minh đồng ý hợp tác với các đảng phái Quốc gia như Việt Nam Quốc dân Đảng, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân Đảng thành lập Chính phủ Liên hiệp Lâm thời thay thế Chính phủ Cách mạng Lâm thời. Tuy nhiên chức trách các Bộ cũng thay đổi. Bộ trưởng Quốc phòng trở thành người lo về tài chính mà không được xem xét danh sách nhân sự, quân số, súng đạn còn các Bộ trưởng khác của các đảng phái Quốc gia chẳng có chức trách cụ thể gì, không bao giờ được tham dự bất cứ buổi họp nào của nội các.

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Lâm thời do Hồ Chí Minh đứng đầu đã tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trên toàn quốc, lần đầu tiên đã bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp. Nhiều đảng phái không có quyền tham gia Tổng tuyển cử đã tìm cách phá hoại. Các đảng này cho là trúng cử chỉ là Việt Minh cộng sản, chính quyền trong tay nên Việt Minh muốn ai trúng cũng được. Mặc dù bị nhiều đảng phái tuyên truyền vận động dân chúng tẩy chay cuộc bầu cử và ngăn cản việc tổ chức bầu cử ở một số nơi, nhưng tại các địa phương, ở đâu cũng có người tự ứng cử, các cuộc tiếp xúc tranh cử công khai, tự do diễn ra ở khắp mọi nơi. Theo Việt Minh, cuộc bầu cử diễn ra công bằng. Tuy nhiên, lá phiếu không bí mật và theo quan sát của sử gia Trần Trọng Kim thì có nơi người dân bị cưỡng bách bầu cho Việt Minh.

Ngày 2 tháng 3 năm 1946, sau khi Quốc hội được bầu, Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến được thành lập để thay thế Chính phủ Liên hiệp Lâm thời. Ở các địa phương, các cấp chính quyền liên hiệp được thành lập trong năm 1946. Theo thỏa thuận với Việt Minh, phe đối lập bao gồm một số tổ chức như Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân Đảng được Trung quốc ủng hộ, không tham gia Tổng tuyển cử nhưng vẫn được nắm 70 ghế Quốc hội cùng nhiều vị trí trong chính quyền trung ương do chính sách hòa hợp các đảng phái của Chính phủ. Trong hồi ký Những năm tháng không thể nào quên, đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định các đảng phái này lo sợ thất bại trước sức ủng hộ lớn của cử tri với mặt trận Việt Minh nên không tham gia bầu cử.

Trong thời gian hoạt động, Chính phủ đã tiếp tục thực hiện các biện pháp, chính sách để giữ vững nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ non trẻ. Về đối nội đã kêu gọi các đảng phái đoàn kết phụng sự quốc gia, thực hiện các chính sách kinh tế, quốc phòng, văn hóa, giáo dục. Hồ Chí Minh giao cho Võ Nguyên Giáp và Trần Quốc Hoàn, sau này trở thành Bộ trưởng Công an, nhiệm vụ vô hiệu hóa các cuộc biểu tình do Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội tổ chức nhằm chấm dứt hoạt động tuyên truyền của các đảng này trong dân chúng. Khi có lộn xộn, lính Trung Quốc bắn chỉ thiên, xông vào giải tán đám biểu tình để vãn hồi trị an. Việt Nam Quốc dân Đảng hoảng hốt khi người Trung Hoa không giúp được gì nhiều trong việc chống lại Việt Minh như họ mong đợi.


Diễn biến

Giai đoạn 1946-1949

Cuộc chiến tại các đô thị phía Bắc




Tại Hà Nội, đúng 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, công nhân Nhà máy điện Yên Phụ phá máy, 20 giờ 3 phút, đèn điện trong thành phố vụt tắt, ít phút sau, pháo binh Việt Nam từ pháo đài Láng bắn dồn dập vào Thành. Sau đó, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam, đăng trên báo Cứu quốc và các báo Hà Nội, với lời thề quyết tử: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!".

Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, các lực lượng vũ trang của chính quyền Việt Minh đã nổ súng chống Pháp tại nhiều khu vực thành thị trên cả nước: Hà Nội, Nam Ðịnh, Vinh, Huế, Đà Nẵng... hoàn thành nhiệm vụ bao vây kìm chân và tiêu diệt quân Pháp, tạo thời gian cần thiết để quân chủ lực tản về các căn cứ ở nông thôn và để các cơ quan, công xưởng di chuyển lên vùng chiến khu.

Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại Hà Nội. Tại đây, quân Pháp phải chiến đấu giành giật từng con phố và phải chịu thương vong lớn, khoảng 100 lính Pháp được coi là bị giết, 45 công dân Châu Âu thiệt mạng, 200 người mất tích. Trong một hoàn cảnh chiến đấu vô cùng khó khăn và chênh lệch về vũ khí, sau 57 ngày đêm chiến đấu trong lòng thành phố, đến đêm 17 tháng 2 năm 1947 Trung đoàn Thủ Đô mới rút ra khỏi nội thành. Đa số nhân dân Hà Nội và vùng ven cũng đã bỏ thành phố vượt sông Hồng tản cư lên phía Bắc, tạo thế "vườn không nhà trống".

Các nỗ lực ngoại giao

Hồ Chí Minh vẫn chưa bỏ cuộc trong việc tìm kiếm một giải pháp hòa bình. 

Ngay ngày đầu tiên của cuộc chiến, Việt Minh rải truyền đơn trên đường phố Hà Nội thông báo với "nhân dân Pháp" rằng chính phủ Việt Nam sẵn lòng tồn tại hòa bình trong Liên hiệp Pháp, rằng chiến tranh nổ ra là do "bọn thực dân phản cách mạng tìm cách chia rẽ và gây chiến", rằng chỉ cần Pháp công nhận độc lập và thống nhất của Việt Nam thì thái độ hợp tác và hiểu biết lẫn nhau giữa hai dân tộc sẽ được lập tức khôi phục.

Ngày hôm sau, đài Việt Minh bắt đầu định kì phát các lời kêu gọi tái đàm phán.

Ngày 23 tháng 12 năm 1946, Hồ Chí Minh viết thư cho Marius Moutet (1876-1968), Bộ trưởng Bộ các lãnh thổ thuộc địa, và tướng Leclerc, đề nghị một cuộc họp giữa đại diện cả hai bên. Một vài ngày sau, ông chính thức đề nghị ngừng bắn và tổ chức một cuộc hội nghị hòa bình mới tại Paris trong khuôn khổ Hiệp định sơ bộ hồi tháng 3. 

Ngày 19 tháng 4 năm 1947, Hồ Chí Minh gửi thông điệp đến Chính phủ Pháp, đề nghị nối lại đàm phán trên cơ sở "hai nước anh em trong Liên hiệp Pháp, một liên hiệp của những người tự do, hiểu biết và yêu thương nhau".




Nhưng tất cả đều không đem lại kết quả gì, người Pháp muốn có phản ứng quân sự mạnh trước khi tính đến chuyện đàm phán. Emile Bollaert, Cao ủy Pháp mới được bổ nhiệm từ tháng 3 năm 1947, được tướng Leclerc khuyên đàm phán bằng mọi giá. Những người thân cận ông như Pierre Messmer và Paul Mus cũng thiên về chiều hướng đối thoại. Nhưng đã có hơn 1.000 binh sĩ Pháp chết hoặc mất tích, và cộng đồng người Pháp ở Đông Dương phản đối kịch liệt việc thương lượng với Việt Minh.

Ngày 23 tháng 4 năm 1947, qua Bộ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam Hoàng Minh Giám, Hồ Chí Minh lại gửi thông điệp tới Bollaert đề nghị ngừng bắn lập tức và đàm phán. Tự tin vào ưu thế quân sự, Bollaert đáp lại bằng một loạt các điều kiện đòi quân đội Việt Nam hạ vũ khí trước khi khôi phục hòa bình. Hồ Chí Minh từ chối thẳng các yêu cầu này khi Paul Mus đến chiến khu Việt Bắc gặp ông để truyền đạt thông điệp trên.


Diễn biến tại Lào và Campuchia

Tại Lào, sau khi thất thủ năm 1946, Lào Issara tan vỡ năm 1949. Các các lực lượng kháng chiến Lào thân Việt Nam thành lập Mặt trận Lào Issara.

Tháng 1 năm 1949, lực lượng kháng chiến lập các chiến khu ở Thượng Lào, Đông Bắc Lào và Tây Lào. 

Đại hội toàn quốc kháng chiến Lào nhóm hợp 8 năm 1950 thành lập chính phủ do Hoàng thân Souphanouvong đứng đầu. Chính phủ Souphanouvong tiếp tục trở thành Đồng minh của Việt Minh kế tục Chính phủ Lâm thời Lào tự do.


Thế trận những năm 1947-1949




Mùa hè năm 1947, lực lượng chủ lực của quân đội Việt Minh có khoảng 60.000 người, chưa kể tự vệ và du kích địa phương. Vũ khí thiếu, chủ yếu là do tự tạo và lấy được của Pháp. Yếu về hỏa lực nhưng cơ động và có hỗ trợ lớn của nhân dân, các tiểu đoàn Việt Nam ngày càng có khả năng tránh các trận càn của Pháp và tấn công đối phương lại những nơi mình lựa chọn. Quân chủ lực chính quy của Việt Nam tổ chức như quân đội phương Tây, nhưng thừa kế nhiều kinh nghiệm chiến tranh cổ truyền của Việt Nam. Quân đội và Chính quyền Việt Minh tổ chức lực lượng dân quân du kích là những chiến sĩ bán quân sự, nửa bí mật nửa công khai, sống tại nhà, vừa làm ruộng vừa chiến đấu trong lòng địch.

Hoàn thành việc đánh rộng ra vùng đồng bằng, Pháp quyết định tiến công lên Việt Bắc để sớm kết thúc chiến tranh. Ngày 7 tháng 10 năm 1947, cuộc hành quân Léa tấn công vào chiến khu Việt Bắc bắt đầu. Quân Pháp tiến nhanh nhưng đã không định vị được những nơi đóng các cơ quan đầu não của đối phương. Lực lượng vũ trang của Việt Minh nhanh chóng được phân tán, sử dụng du kích vận động chiến, bất thần phục kích, đánh tiêu hao quân Pháp ở những khu vực hiểm yếu. Pháp không đạt được mục đích tiêu diệt căn cứ Việt Bắc, nhưng cũng đã cắt được đường số 4 và kiểm soát biên giới Việt Trung.

Cuộc chiến tranh du kích tại đồng bằng gây khó khăn lớn cho Pháp. Ở mọi nơi, bộ đội Việt Minh vẫn tự do đi lại, tuyển quân, thu thuế. Có những hội tề (chính quyền làng xã thân Pháp) được lập ra để che mắt Pháp nhưng hành động theo Việt Minh. Dân chúng gánh thóc gạo từ vùng do Pháp chiếm đóng đi đóng thuế cho Việt Minh. Các đội du kích được thành lập khắp các vùng bị chiếm quấy rối quân Pháp, Pháp phải để phần lớn quân chủ lực giữ đồng bằng Bắc Bộ. Mặc dù là vùng do Pháp kiểm soát, nhưng thực chất đồng bằng màu mỡ đông dân đó vẫn là nguồn cung cấp nhân lực, hàng hóa và lương thực lớn nhất cho Việt Minh.



Thắng lợi duy nhất của Pháp trong mùa hè này là về chính trị, khi tướng Nguyễn Bình - Tổng chỉ huy quân đội Việt Nam tại Nam Bộ ra sách lược : Tổ chức lại lực lượng vũ trang các giáo phái để biên chế chính quy thành Vệ quốc đoàn. Trong năm 1947, sau những xung đột quân sự với Việt Minh và nhất là sau khi giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) mất tích (Hòa Hảo cho rằng Việt Minh thủ tiêu Huỳnh Phú Sổ) cả hai giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo đều chấm dứt hợp tác với Việt Minh để tạm thời hợp tác với Pháp chống Việt Minh. Năm 1948, một phần lực lượng Bình Xuyên cũng hợp tác với Pháp chống lại Việt Minh.


Pháp sa lầy

Sau chiến dịch Léa, xung đột lặng xuống. Thiếu phương tiện để tiếp tục các chiến dịch tấn công, quân Pháp chỉ giới hạn trong các hoạt động vừa phải ở đồng bằng. Nhưng cũng tại đồng bằng, lực lượng vũ trang Việt Minh được phân tán thành các đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung, tổ chức thêm các đội du kích hoạt động bán công khai, sống tại nhà, vừa làm ruộng vừa chiến đấu, thực hiện các hoạt động quấy rối quân Pháp. Các cán bộ của chính quyền và mặt trận Việt Minh vẫn đi lại tuyển quân, thu thuế trong vùng Pháp kiểm soát. Những vùng này vẫn tiếp tục là nơi cung cấp một số loại nhu yếu phẩm như thuốc men, lương thực, vải vóc... cho Việt Minh. Tại các chiến khu, chính quyền Việt Minh củng cố căn cứ, tổ chức tự sản xuất lương thực và vũ khí để có thể kháng chiến lâu dài.

Lực lượng vũ trang và du kích đồng bằng sông Hồng tổ chức các trận chiến quấy rối quân Pháp. Cuối chiến tranh, quân địa phương và du kích cầm giữ phần lớn quân Pháp trong vùng đồng bằng. Mỗi chuyến hàng của Pháp từ Hải Phòng về Hà Nội phải tụ thành đoàn lớn, nhiều xe tăng và lính bảo vệ mới đi thoát. Các đường bộ bị đào bới ngăn cản xe cơ giới, đường sắt bóc hết gang thép làm vũ khí.

Tại miền Trung Việt Nam, Việt Minh kiểm soát từ Hội An đến Mũi Đại Lãnh, gần như ngăn đôi đất nước. Ở miền Nam, quân Pháp ở tình thế tốt hơn do lực lượng chính trị và quân sự ở đây ở xa và liên lạc rất khó khăn với chủ lực ở miền Bắc. Lực lượng của tướng Nguyễn Bình bị đẩy về các chiến khu trong vùng ngập mặn và rừng núi, họ còn gặp sự chống đối của các giáo phái người Việt như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên. Năm 1948, quân Pháp tổ chức cuộc hành quân Véga nhằm phá hủy cơ quan đầu não kháng chiến ở Nam Bộ và nhiều cuộc hành quân khác vào Đồng Tháp Mười nhưng đều thất bại.


Giải pháp Bảo Đại

Pháp liên hệ với Bảo Đại đề nghị đàm phán thành lập một chính phủ mới ở Việt Nam. Bảo Đại được Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp bao gồm các lực lượng chính trị Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân đảng và Việt Nam Quốc dân Đảng hậu thuẫn. Đây là những tổ chức chính trị hoặc tôn giáo từng hợp tác với Việt Minh chống Pháp nhưng do xung đột với Việt Minh nên chuyển sang ủng hộ Bảo Đại thành lập Quốc gia Việt Nam.

Thực chất mục đích của Pháp là tìm cách xây dựng một chính quyền bản xứ người Việt để làm đối trọng với Việt Minh, và để thuyết phục Mỹ viện trợ kinh tế và quân sự để Pháp có thể tiếp tục đứng chân tại Đông Dương, bởi trong hiệp ước không có quy định rõ ràng nào về nghĩa của chữ "độc lập" cũng như quyền hạn của Quốc gia Việt Nam, cũng không nói rõ việc thành lập Quốc gia này có thể ảnh hưởng gì đến cuộc chiến Việt – Pháp hiện vẫn tiếp diễn.




Ngày 7 tháng 12 năm 1947, Bảo Đại và Pháp ký Hiệp định vịnh Hạ Long, trong đó Pháp cam kết mập mờ về nền độc lập dân tộc của Việt Nam. Những chính trị gia trong Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệpNgô Đình Diệm (1901–1963) đã chỉ trích hiệp định này là kém quá xa so với một nền độc lập thực sự. 

Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại và Cao ủy Đông Dương Émile Bollaert (1890-1978) ký Hiệp định Vịnh Hạ Long thứ hai, Pháp long trọng công nhận độc lập của Việt Nam. Tuy nhiên, chính phủ Pháp vẫn giữ quyền kiểm soát quan hệ ngoại giao và quốc phòng, đồng thời trì hoãn việc chuyển các giao chức năng khác của chính quyền sang những cuộc đàm phán trong tương lai.




Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol (1884-1966) và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée, thành lập Quốc gia Việt Nam địa vị quốc gia độc lập hội viên trong trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại. Tuy nhiên, chính quyền Quốc gia Việt Nam non trẻ rất yếu ớt do các quyền quan trọng về quân sự, tài chính và ngoại giao đều do người Pháp nắm giữ và quyền hành cao nhất ở Đông Dương trên thực tế là Cao ủy Pháp. Quân đội Quốc gia Việt Nam được thành lập nhưng được huấn luyện kém và không có sĩ quan chỉ huy cấp cao người Việt. Theo hiệp ước giữa Quốc gia Việt Nam và Pháp, một số đơn vị của Pháp được chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam. Ban đầu các đơn vị này vẫn do các sĩ quan Pháp chỉ huy nhưng sẽ được thay thế dần bằng các sĩ quan người Việt tốt nghiệp các cơ sở đào tạo sĩ quan do Quốc gia Việt Nam thành lập với sự trợ giúp về mọi mặt huấn luyện đào tạo quân sự của Pháp và Mỹ. Ngoài ra các trung tâm và các trường huấn luyện của Mỹ bắt đầu chọn, đưa người từ Việt Nam sang học ở Mỹ.

Ngày 19 tháng 7 năm 1949, Vương quốc Lào giành được độc lập trong Liên hiệp Pháp, Hiến pháp năm 1947 được sửa đổi. Hiệp ước tiếp theo ký ngày 22 tháng 10 năm 1953.

Ngày 8 tháng 11 năm 1949, Vương quốc Campuchia giành độc lập trong Liên hiệp Pháp. Đến ngày 9 tháng 11 năm 1953. Campuchia mới được Pháp công nhận độc lập toàn diện.

Sau đó, chịu sức ép của Mỹ và để xoa dịu mâu thuẫn, Pháp dần cho ký những hiệp ước trao cho Quốc gia Việt Nam các quyền tự trị về quân sự, tài chính, thuế quan, xuất nhập cảnh... Các cơ quan chức năng do Pháp nắm giữ được chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam trong những năm sau đó. Tuy nhiên 2 vấn đề quan trọng nhất là nguồn cung tài chính và quyền chỉ huy quân đội thì vẫn do Pháp nắm giữ. Kỳ thực Pháp coi giải pháp Bảo Đại chỉ là do tình thế thúc ép, họ không tin tưởng và tôn trọng chính phủ này. 



Năm 1949, Tổng tham mưu trưởng lục quân Pháp, đại tướng Georges Revers (1891-1974) sau chuyến khảo sát tình hình Đông Dương đã có bản tường trình mật trong đó viết: "Vấn đề điều đình với Việt Nam thì tìm những người quốc gia chống cộng để điều đình. Giải pháp Bảo đại chỉ là một giải pháp thí nghiệm, nhưng chế độ Bảo Đại là một chế độ ung thối với sự tham nhũng, buôn lậu đồng bạc, buôn lậu giấy phép nhập cảng, những khu chứa cờ bạc đĩ điếm..." (Trung tâm du hí Đại thế Giới ở Chợ Lớn được chính phủ Bảo Đại cho phép công khai sòng bạc và chứa mại dâm để kiếm chác). Bản tường trình sau đó bị lộ khiến chính phủ Pháp "muối mặt", và tướng Georges Revers bị cho về hưu non sau khi ra khai trình tại Hội đồng tối cao quân lực. Bản thân Bảo Đại cũng nhận xét rằng: "Cái được gọi là giải pháp Bảo Đại hóa ra là giải pháp của người Pháp."


Giai đoạn 1950-1954

Chiến dịch Biên giới

Trong năm 1950, Chiến tranh Đông Dương có sự thay đổi quan trọng, chuyển sang một giai đoạn mới. Sau chiến dịch Việt Bắc, Việt Minh dần dần tổ chức lại bộ máy và lực lượng, bắt đầu tổ chức những trận đánh qui mô chống lại Pháp. Các lực lượng vũ trang của Việt Minh được hoàn chỉnh về biên chế, thống nhất với tên gọi Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Về phía Pháp, chiến tranh đã vào thế sa lầy tuy họ đã dùng đến 40-45% ngân sách quân sự và 10% ngân sách quốc gia. Với sự nổ ra của Chiến tranh Triều Tiên vào tháng 6 năm 1950, Mỹ thay đổi thái độ về Chiến tranh Đông Dương, coi Triều Tiên và Việt Nam là hai chiến trường phụ thuộc lẫn nhau trong cuộc chiến của phương Tây chống lại chủ nghĩa cộng sản, tổng thống Mỹ Harry S. Truman tuyên bố sẽ viện trợ quân sự trực tiếp cho các nỗ lực của Pháp tại Đông Dương.

Để lấy lại thế chủ động, Pháp thực hiện tăng cường hệ thống phòng ngự đường số 4, khoá biên giới Việt-Trung: cô lập căn cứ địa Việt Minh với bên ngoài, thiết lập hành lang Đông-Tây, cô lập Việt Bắc với đồng bằng Bắc bộ, chuẩn bị lực lượng để tấn công Việt Bắc lần 2 để tiêu diệt đầu não Việt Minh.

Về phía Việt Minh, Bộ chỉ huy Việt Minh nhận định đúng ý đồ của Pháp nên nhanh chóng vạch kế hoạch chủ động tấn công để mở cửa biên giới, khai thông bàn đạp để nhận viện trợ của Trung Quốc, Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa. Theo chủ trương này, đầu tháng 7 năm 1950, Bộ Tổng tư lệnh Việt Minh quyết định chọn hướng chiến dịch là Cao Bằng – Lạng Sơn.

Chiến dịch Biên giới bắt đầu ngày 16 tháng 9 năm 1950, diễn ra trong ba đợt. 

Đợt 1, Việt Minh tiến hành đánh công kiên quy mô tương đối lớn, có hiệp đồng giữa các binh chủng tấn công cứ điểm Đông Khê nhằm cô lập Cao Bằng, và đến ngày 18, cứ điểm Đông Khê hoàn toàn thất thủ dù quân Pháp đã huy động cả không quân yểm trợ. Sự kiện này làm mất một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ đường số 4 của Pháp. 

Sang đợt 2, quân Pháp quyết định rút khỏi Cao Bằng, đồng thời thực hiện cuộc "hành quân kép", gửi tiếp viện từ Lạng Sơn qua Thất Khê nhằm tái chiếm Đông Khê. Việt Minh đã bố trí thế trận phục kích, bao vây sau đó lần lượt tiêu diệt cả hai cánh quân Pháp từ Thất Khê lên lẫn từ Cao Bằng rút về.

Qua đợt 3, Việt Minh tiến hành truy kích quân Pháp rút chạy đồng thời liên tục quấy rối, không cho họ chuyển quân tiếp viện cho mặt trận Cao-Bắc-Lạng. Dưới sự uy hiếp của quân Việt Minh và sự hoang mang của bộ chỉ huy Pháp, đến ngày 22 tháng 10 năm 1950, quân Pháp phải rút bỏ hoàn toàn khỏi các cứ điểm còn lại trên đường 4 như Thất Khê, Na Sầm, Đồng Lập, Lạng Sơn... Việt Minh chủ động kết thúc chiến dịch.



Thắng lợi của Việt Minh trong chiến dịch này đã làm phá sản chiến lược quân sự chính trị của Pháp, phá được thế bị cô lập của căn cứ địa Việt Bắc, khai thông một đoạn biên giới dài, nối Việt Bắc với các đồng minh lớn thành một dải liên tục đến tận châu Âu, mở đầu cầu tiếp nhận viện trợ. Vành đai đồn bốt bao vây Việt Bắc đã bị phá hủy hoàn toàn. Đồng thời chiến dịch này đã gây nên không khí chủ bại và hoảng sợ tại Hà Nội. Bộ chỉ huy Pháp được cải tổ, dẫn đến việc tướng Jean de Lattre de Tassigny (1889-1952) lên nắm quyền chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương.

Chiến dịch này có ý nghĩa bản lề quan trọng, là bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Kể từ đây Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu chuyển sang thế chủ động tấn công. Cũng từ năm 1950, Việt Minh bắt đầu nhận được viện trợ từ các nước Xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh Pháp được Mỹ giúp sức muốn nhanh chóng giành thắng lợi, kết thúc chiến tranh còn thế và lực của Việt Minh chưa thực sự lớn mạnh, viện trợ này có ý nghĩa hết sức quan trọng.


Chiến tranh phát triển

Không còn hy vọng tiến công hay bao vây chiến khu Việt Bắc, Pháp tổ chức Phòng tuyến Tassigny để bảo vệ vùng đồng bằng. Từ khi chuyển sang chủ động tiến công, các chiến dịch liên tiếp của Quân đội Việt Minh - Chiến dịch Trung Du, Chiến dịch đường 18, Chiến dịch Hà Nam Ninh - đã bóc vỏ Phòng tuyến Tassigny khỏi đồng bằng, buộc Pháp duy trì một lực lượng lớn bên trong để bảo vệ vùng đồng bằng Bắc Bộ.



Từ cuối năm 1950, Việt Minh bắt đầu thực hiện các trận chiến quy mô lớn. Nhưng họ đã phải chịu thiệt hại lớn, các chiến dịch Trung du, Đường 18 và Hà Nam Ninh bị thất bại trước quân Pháp do tướng Jean de Lattre de Tassigny chỉ huy. Chiến dịch Hòa Bình mà Jean de Lattre de Tassigny mở vào tháng 11 năm 1951 đã trở thành « cối xay thịt" đối với cả hai bên. Khi trận đánh kết thúc vào tháng 2 năm 1952, Quân đội Việt Minh chịu thương vong không nhỏ, nhưng họ đã học được cách đối phó với chiến thuật và vũ khí của Pháp, và họ đã thâm nhập được sâu hơn vào trong vòng cung phòng thủ của Pháp.




Cuối năm 1952, Việt Minh mở Chiến dịch tiến công Tây Bắc giải phóng thị xã và hầu hết Sơn La cùng các khu vực Nghĩa Lộ, Yên Bái (2 huyện), Lai Châu (4 huyện). Cuộc tấn công vào Phú Thọ để cứu vãn tình thế của tướng Raoul Salan (1899-1984) thất bại. Salan liền cho củng cố Nà Sản, xây dựng vị trí này như một "con nhím" xù lông để chặn bước tiến của Việt Minh.

Ở miền Trung, Việt Minh đã đạt được những thành công quan trọng. Vùng kiểm soát của Pháp ở Tây Nguyên đã bị thu hẹp lại chỉ còn vài vùng ven biển hẹp ở quanh Huế, Đà Nẵng, và Nha Trang. Những khu vực duy nhất mà Pháp còn có thể thành công là Nam Kỳ và Campuchia.

Mùa xuân năm 1953, Việt Minh tổ chức một lực lượng lớn tiến công quân Pháp ở Lào, với sự hỗ trợ của Quân đội Chính phủ Souphanouvong. Do hậu cần quá xa nên Việt Minh không tiến công quân Pháp ở Cánh đồng Chum. Đây được coi là thành công lớn của Pháp.

Ở các vùng khác, Việt Minh tấn công phối hợp đồng bộ từ Nam Bộ, Khu 5, Tây Nguyên, Trung Lào, Hạ Lào, Bắc Bộ, buộc Pháp phân tán xé lẻ khối quân cơ động. Việt Minh tiến đánh Tây Bắc, Pháp không còn lực lượng cơ động để ứng cứu, hình thành Chiến cục đông-xuân 1953-1954.


Kế hoạch Navarre




Tháng 7 năm 1953, chỉ huy mới của Pháp, tướng Henri Navarre (1898-1983), đến Đông Dương. Được sự hứa hẹn về việc Mỹ tăng viện trợ quân sự, Navarre chuẩn bị cho một cuộc tổng phản công mà báo chí Pháp và Mỹ gọi là "Kế hoạch Navarre".




Ngày 18 tháng 7 năm 1953, Navarre mở cuộc hành quân Hirondelle ("Con én") vào Lạng Sơn và cuộc hành binh "Camargue" vào Quảng Trị nhằm phá hủy được một số dụng cụ và máy móc của Việt Minh. Ở Lạng Sơn, quân Pháp lùng sục các kho tàng rồi vội vã rút chạy. Sau đó truyền thông Pháp loan tin quân đội đã diệt được hai tiểu đoàn, một số căn cứ trong khu tam giác là mối đe dọa trên quốc lộ số 1.

Liên tiếp với hai cuộc hành quân này, ngày 9 tháng 8 năm 1953 Pháp rút quân ra khỏi Nà Sản bằng không vận. Trước đây, năm 1952, Pháp đặt cứ điểm Na Sản để ngăn Quân đội Việt Minh tiến công quân Pháp ở Lào.

Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Navarre mở Cuộc hành quân Moutte vào Ninh Bình và Thanh Hóa hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường chính. Mục đích chính lại là phá các căn cứ hậu cần tiền duyên của Việt Minh trong cuộc tiến công 1953-1954 được cho là sẽ diễn ra ở đồng bằng. Nhưng thực sự trong kế hoạch Việt Minh được đề ra hồi tháng 9, đồng bằng Bắc Bộ chỉ là chiến trường phối hợp. Cuộc hành quân Moutte diễn ra là sự suy đoán sai của Navarre cùng sự xuất sắc của bộ đội mật mã Việt Nam.

Ngày 12 tháng 4 năm 1953, Việt Minh tiến quân sang Lào. Chính phủ Vương quốc Lào lên án "Việt Minh xâm lược".

Tháng 11 năm 1953, Navarre mở cuộc hành quân Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ - Khu vực mà ông cho rằng có vị trí chiến lược chặn giữa tuyến đường chính của Quân đội Việt Minh sang Lào. Navarre xem căn cứ này vừa là một vị trí khóa chặn, vừa là một cái bẫy để nhử đối phương vào một trận đánh lớn và có tính chất quyết định mà tại đó Việt Minh sẽ bị tiêu diệt bởi pháo binh và hỏa lực không quân vượt trội của Pháp. Navarre đã chọn Điện Biên Phủ - vùng đất nằm trong một thung lũng lớn, cách Hà Nội 200 dặm đường không, với sự chi viện của khoảng 400 máy bay. Quân Pháp sau những trận đánh nống thất bại đã nhường các điểm cao xung quanh cho Quân đội Việt Minh, Navarre cho rằng khi đó Quân đội Việt Minh không đủ khả năng đưa pháo lên Điện Biên Phủ nên sẽ không có nguy hiểm gì từ các điểm cao. Điện Biên Phủ được Navarre xem như là một "cái nhọt tụ độc", hút hết phần lớn chủ lực của Quân đội Việt Minh và đảm bảo an toàn cho đồng bằng Bắc Bộ. Khi đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang nghĩ tới một cuộc tấn công, hy vọng sẽ mở được một con đường xuyên Lào thọc qua Campuchia. Sau đó đưa lực lượng Quân đội Việt Minh tại miền Bắc vào chi viện bổ sung cho lực lượng sẵn có ở Nam Bộ. Trong cuộc họp tháng 11 năm 1953 của Bộ Quốc phòng Việt Minh, các chỉ huy quân sự quyết định mở Chiến cục đông-xuân 1953-1954 để xé lẻ khối quân chủ lực của Pháp đang co cụm đồng bằng Bắc Bộ. Các vị trí tiến công được xác định ở Lai Châu, Trung-Hạ Lào và Tây Nguyên. Ý tưởng tuyến đường chiến lược xuyên Lào sẽ được thực hiện một phần trong tương lai thông qua con đường mòn Hồ Chí Minh.


Trận Điện Biên Phủ




Chiến dịch Lai Châu và Chiến dịch Trung Lào tháng 12 năm 1953 đến tháng 1 năm 1954 đã giúp Quân đội Việt Minh  nắm giữ mảng lớn còn lại của vùng Tây Bắc (Điện Biên Phủ chỉ là một thung lũng nhỏ) và phần lớn vùng Trung và Nam Lào.

Để đối phó, Navarre tăng cường cho Điện Biên Phủ khiến nó trở thành một "pháo đài bất khả xâm phạm" trong con mắt phương Tây. Nhưng Navarre không hề biết rằng bản thân đã rơi vào một cái "bẫy" của Võ Nguyên Giáp khi "đặt bẫy" đối thủ của mình. Việc xây dựng một tập đoàn cứ điểm ở vùng núi Tây Bắc hiểm trở đã hút đi của Pháp những đơn vị thiện chiến nhất. Điều đó tạo nên khoảng trống không thể bù vào ở đồng bằng Bắc Bộ.

Võ Nguyên Giáp (1911– 2013) quyết định vào "bẫy", và đưa vào Điện Biên Phủ 4 sư đoàn với một số lượng lớn pháo xấp xỉ quân Pháp ở Điện Biên Phủ, dù cơ số đạn hạn chế (chủ yếu là thu được của Pháp; phần Trung Quốc viện trợ rất hạn chế do nước này tham chiến tại Triều Tiên). Những cuộc tiến công trên toàn Đông Dương không cho Pháp tập hợp một đội quân cơ động ứng cứu. Những đơn vị phòng không đầu tiên của Quân đội Việt Minh được huấn luyện ở Liên Xô về nước tham chiến. Một lực lượng khổng lồ dân công làm công tác vận tải. Các đơn vị mạnh nhất của Quân đội Việt Minh bao vây quân Pháp ở Điện Biên Phủ.



Cuộc vây hãm Điện Biên Phủ diễn ra từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 khi quân Pháp đầu hàng. Ở Washington đã có cuộc tranh luận về việc Mỹ có nên trực tiếp can thiệp bằng quân sự, nhưng tổng thống Dwight David Eisenhower (1890–1969) đã quyết định loại bỏ khả năng này do chính quyền Anh sẽ không ủng hộ.

Cục diện chiến trường Đông Dương, tại thời điểm trong và sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, Việt Minh kiểm soát khoảng 2/3 lãnh thổ Việt Nam, nhưng chủ yếu là các vùng nông thôn và rừng núi, một số thị xã nhỏ, chưa kiểm soát được các thành phố lớn, Pháp kiểm soát một số tỉnh đồng bằng và các thành phố lớn đông dân cư, một số tỉnh đồng bằng nằm trong vùng tranh chấp. Việt Minh kiểm soát gần như toàn bộ miền Bắc Việt Nam nhưng tại miền Nam Việt Nam, quân đội Quốc gia Việt Nam và quân đội Pháp chiếm ưu thế, quân đội riêng của các giáo phái tự trị cũng khá mạnh nên Việt Minh chỉ kiểm soát được một số vùng tại Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.

Sau 56 ngày đêm, cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ, toàn bộ 18.000 quân Pháp bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh. Điện Biên Phủ là chiến thắng quân sự lớn nhất của Quân đội Việt Minh trong toàn bộ chiến tranh Đông Dương. Trên phương diện quốc tế trận này có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội của một quốc gia thuộc địa châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội của một cường quốc châu Âu. Trận Điện Biên Phủ đã đánh bại ý chí duy trì Đông Dương là lãnh thổ thuộc Liên hiệp Pháp của Pháp và buộc nước này ra khỏi Đông Dương. 

Ngày 8 tháng 5, hội nghị Genève bắt đầu họp bàn về vấn đề khôi phục hòa bình ở Đông Dương.


Sự tham gia của các nước khác

Từ năm 1950, Việt Minh bắt đầu nhận được viện trợ quân sự từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội chủ nghĩa khác còn Pháp bắt nhận đầu được viện trợ quân sự từ Mỹ. Chiến tranh Đông Dương vì thế chuyển sang giai đoạn mới.


Về phía Việt Minh

Sau nhiều lần tìm sự ủng hộ về mặt ngoại giao từ phương Tây và Mỹ không thành, kèm theo đó là quan hệ các nước trong khu vực không có sự tiến triển, Việt Nam bắt đầu tìm kiếm sự ủng hộ từ hệ thống xã hội chủ nghĩa. Năm 1949, Quân đội Việt Minh vượt qua biên giới Việt-Trung, tiến công quân Trung Hoa Dân quốc tỉnh Quảng Tây, bàn giao lại cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Ngày 14 tháng 1 năm 1950, Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới và khẳng định Việt Minh là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam.

Năm 1949 ở Trung Quốc, Đảng Cộng sản đã giành được quyền lực trên toàn đại lục. Ngay sau tuyên bố trên, ngày 18 tháng 1 năm 1950, Trung Quốc trở thành nước đầu tiên trên thế giới công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Việt Minh). Sau Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Liên Xô, CHDCND Triều Tiên, Nam Tư và các nước Đông Âu cũng lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao. Sau khi công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trung Quốc bắt đầu viện trợ quân sự cho nước này.

Trong Chiến tranh Đông Dương ngoài ô tô vận tải, pháo cao xạ, hỏa tiễn sáu nòng, tiểu liên K50 là của Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu, còn các vũ khí bộ binh, pháo 105 ly, 75 ly và lương thực là do Trung Quốc giúp đỡ. Số viện trợ nói trên chiếm khoảng 20% tổng số vật chất quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng trên chiến trường Bắc Bộ trong thời gian này.

Từ tháng 6-1950 đến tháng 6-1954, Việt MinhNam nhận được từ Liên Xô, Trung Quốc tổng cộng 21.517 tấn hàng các loại, trị giá 34 triệu rúp Nga (~34 triệu USD theo thời giá bấy giờ). Còn theo thống kê của Trung Quốc thì chưa tính phần của Liên Xô, riêng lượng lương thực và thực phẩm phụ Trung Quốc đã viện trợ Việt Nam hơn 140.000 tấn và hơn 26.000 tấn dầu, ngoài ra còn 155.000 khẩu súng các loại, 57,85 triệu viên đạn, 3.692 khẩu pháo và súng cối, hơn 1,08 triệu quả đạn pháo và đạn cối, hơn 840.000 quả lựu đạn, 1.231 ô tô, hơn 1,4 triệu bộ quân phục nữa. Như vậy là có sự khác biệt khá lớn giữa số liệu thống kê của Trung Quốc và của Việt Nam.


Trung Quốc



Trong thời kỳ này, Trung Quốc thực hiện chính sách ngoại giao ngả về phe Xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu, trực tiếp đối đầu với Mỹ, coi Mỹ là kẻ thù nguy hiểm nhất. Vì vậy, Trung Quốc đã tích cực ủng hộ và đưa quân tình nguyện tham chiến ở Triều Tiên chống quân Liên Hợp Quốc và giúp đỡ Việt Minh chống Pháp. Tuy nhiên khác với Triều Tiên, Việt Minh chỉ đồng ý nhận viện trợ vũ khí chứ không chấp nhận cho Trung Quốc đem quân tới trực tiếp tham chiến. Trung Quốc là nước viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tích cực nhất, nhiều nhất lúc đó.




Cuối tháng 1 năm 1950, Hồ Chí Minh bí mật sang Bắc Kinh để bàn về vấn đề viện trợ, sau đó đi Moskva gặp gỡ Joseph Staline (1879-1953), và Mao Trạch Đông (1893–1976), Chu Ân Lai (1898–1976) đang ở thăm Liên Xô. Stalin và Mao Trạch Đông đã khẳng định : Việt Nam cần trang bị 10 đại đoàn để đánh thắng Pháp, trước mắt hãy trang bị cho 6 đại đoàn có mặt ở miền Bắc. Việt Nam có thể đưa ngay một số đơn vị sang nhận vũ khí trên đất Trung Quốc. Tỉnh Quảng Tây sẽ là hậu phương trực tiếp của Việt Nam. Từ đó, viện trợ của Trung Quốc đã một góp phần không nhỏ trong việc làm thay đổi cục diện chiến tranh ở Đông Dương. Archimedes Patti, một nhà quan sát Mỹ, trong hồi ký viết: Đến năm 1950, Mao đã ở trong thế có thể giúp đỡ Hồ Chí Minh qua đường biên giới phía Bắc Việt Nam. Hồ Chí Minh không còn bị cô lập như trước, ông đã có rất nhiều đồng minh, trước hết là Trung Quốc và sau đó là Liên Xô, một sân bóng mới đã bắt đầu.

Ngay tháng 4 năm 1950, hai Trung đoàn của Đại đoàn 308 sang Mông Tự, Vân Nam, tiếp đó một Trung đoàn của Đại đoàn 312 sang Hoa Đồng, Quảng Tây nhận vũ khí. Để giải quyết đảm bảo hậu cần của bộ đội Việt Minh, ngày 6 tháng 8 năm 1950, Tổng cục Hậu cần Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã thành lập văn phòng ở Nam Ninh. Ngoài ra, còn có hai Tiểu đoàn công binh và trường sĩ quan lục quân sang học tập, huấn luyện tại Trung Quốc. Những đơn vị sang Trung Quốc ngoài việc trang bị lại vũ khí còn được huấn luyện thêm về chiến thuật, đặc biệt là kỹ thuật đánh bộc phá, được bắn đạn thật nên tiến bộ rất nhanh.

Theo thống kê sơ bộ của Trung Quốc, từ tháng 4 đến tháng 9, Trung Quốc đã viện trợ 14.000 súng trường và súng lục, 1.700 súng máy và tiểu liên, 150 súng cối, 60 khẩu pháo, 300 bazooka, cùng đạn dược, thuốc, quần áo và 2.800 tấn lương thực. Riêng chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam tổng cộng hơn 200 ô tô, hơn 10.000 thùng dầu, hơn 3.000 khẩu súng các loại, 2.400.000 viên đạn, hơn 100 khẩu pháo các loại, hơn 60.000 viên đạn pháo các loại và đạn hỏa tiễn, 1.700 tấn lương thực, ngoài ra còn một lượng lớn thuốc men, khí tài, thuốc nổ.

Nhờ có sự giúp đỡ của Trung Quốc, trang bị vũ khí của quân đội được cải thiện đáng kể. Những năm qua, mỗi chiến sĩ chỉ mơ ước có một khẩu súng trong tay. Bây giờ không chỉ có súng mà đạn được cũng khá dồi dào. Sức mạnh hỏa lực của trung đoàn bộ binh ta đã hoàn toàn thay đổi so với trước. Tính đến tháng 6 năm 1950, số cán bộ sang Trung Quốc học tập là 3.100 người (trong đó 650 cán bộ học bổ túc trung và sơ cấp, 1.200 học đào tạo, chỉ huy bộ binh sơ cấp, còn lại học về binh chủng như pháo binh, công binh...

Trong hai năm 1951-1952, viện trợ của các nước Xã hội chủ nghĩa, trong đó có Trung Quốc được duy trì thường xuyên và tương đối đều đặn. Từ tháng 7 năm 1952 đến tháng 1 năm 1953, Trung đoàn 45, Trung đoàn pháo binh hạng nặng đầu tiên của Quân đội Việt Minh được huấn luyện ở Mông Tự (Vân Nam, Trung Quốc); Trung đoàn pháo cao xạ 367 thành lập ngày 1 tháng 4 năm 1953, sau 6 tháng huấn luyện ở Tân Dương (Quảng Tây, Trung Quốc), cuối năm 1953 được điều tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Liên Xô giúp trang bị vũ khí, Trung Quốc đảm nhiệm về đào tạo cán bộ, nhân viên kỹ thuật, huấn luyện cho hai trung đoàn này.

Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc đã chi viện cho 3.600 viên đạn pháo 105 ly, đó là số đạn đi theo 24 khẩu pháo viện trợ đưa về Việt Nam từ cuối năm 1953, chiếm 18% tổng số đạn pháo sử dụng trong chiến dịch, sau đó còn chuyển thêm cho 7.400 viên đạn 105mm nhưng số đạn này không kịp đưa vào phục vụ chiến dịch. Trong những ngày cuối chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc còn giúp thêm một tiểu đoàn DKZ 75mm và 12 pháo hỏa tiễn H6, kịp thời tham gia đợt tổng công kích cuối cùng diễn ra chiều ngày 6 tháng 5 năm 1954, phát huy tác dụng rất lớn.

Trong những năm 1949, 1950, Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã viện trợ 2.634 tấn gạo. Tuy nhiên, từ năm 1951 trở đi Việt Minhđã cố gắng huy động lương thực trong nước để giảm dần lượng gạo viện trợ. Vì vậy, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, lương thực chủ yếu được huy động từ trong nước, gạo Trung Quốc chỉ có 1.700 tấn gạo, chiếm 6,52% tổng nhu cầu.




Ngoài trang bị vũ khí, giúp đỡ huấn luyện, viện trợ lương thực, Trung Quốc còn cử Đoàn công tác Hoa Nam gồm 79 người do Vi Quốc Thanh làm trưởng đoàn. Ngày 9 tháng 8 năm 1950 đoàn khởi hành từ Nam Ninh, ngày 12 tháng 8 đến Quảng Uyên, Cao Bằng. Đây là lần đầu tiên Đảng Cộng sản Trung Quốc cử một đoàn cố vấn quân sự ra nước ngoài, với chỉ thị là phải phát huy tinh thần chủ nghĩa quốc tế, phải đoàn kết với các đồng chí Việt Nam, phải giúp Việt Nam theo con đường tự lực cánh sinh, phát huy tính thần gian khổ phấn đấu. Đảng Cộng sản Trung Quốc giao cho đoàn 2 nhiệm vụ: Một là, giúp đỡ Việt Nam đánh thắng trận, đuổi thực dân Pháp xâm lược; hai là, giúp đỡ Việt Nam xây dựng quân đội chính quy. Ngoài đoàn cố vấn quân sự, Trung Quốc còn cử Trần Canh (nguyên Phó Tư lệnh cánh quân Tây Nam, Tư lệnh quân khu Vân Nam) cùng một số cán bộ quân sự, trực tiếp làm cố vấn trong chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950.

Trong giai đoạn 1950-1951, cố vấn Trung Quốc tham gia tham mưu tích cực cho các chỉ huy Việt Minh về chiến thuật quân sự. Tuy nhiên trong giai đoạn này, các chiến dịch do Quân đội Việt Minh phát động đều không thu được nhiều kết quả mà lại bị thương vong nhiều, cho thấy chiến thuật của cố vấn Trung Quốc không phù hợp với quy mô, trang bị của Quân đội Việt Minh, vốn nhỏ hơn nhiều so với quân đội Trung Quốc. Đến chiến dịch Hòa Bình năm 1952, Việt Minh đã tự tiến hành chiến dịch mà không cần cố vấn Trung Quốc tham gia. Từ đó về sau, vai trò của cố vấn Trung Quốc chỉ dừng ở mức tham khảo ý kiến.

Ngày 2 tháng 9 năm 1953, Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn lãnh đạo cấp cao đến nơi ở của đoàn cố vấn Trung Quốc để trao Huân chương Hồ Chí Minh cho các thành viên của đoàn cố vấn như Vi Quốc Thanh, La Quý Ba, biểu dương tinh thần quốc tế vô sản trong đoàn cố vấn, cảm ơn sự giúp đỡ mà Đảng Cộng sản, Chính phủ Trung Quốc đã dành cho Việt Nam.

Ngoài trang bị vũ khí, giúp đỡ huấn luyện, viện trợ lương thực, Trung Quốc còn cử Đoàn công tác Hoa Nam gồm 79 người do Vi Quốc Thanh làm trưởng đoàn. Ngày 9 tháng 8 năm 1950 đoàn khởi hành từ Nam Ninh, ngày 12 tháng 8 đến Quảng Uyên, Cao Bằng. Đây là lần đầu tiên Đảng Cộng sản Trung Quốc cử một đoàn cố vấn quân sự ra nước ngoài, với chỉ thị là phải phát huy tinh thần chủ nghĩa quốc tế, phải đoàn kết với các đồng chí Việt Nam, phải giúp Việt Nam theo con đường tự lực cánh sinh, phát huy tính thần gian khổ phấn đấu. Đảng Cộng sản Trung Quốc giao cho đoàn 2 nhiệm vụ: Một là, giúp đỡ Việt Minh đánh thắng trận, đuổi Pháp xâm lược; hai là, giúp đỡ Việt Nam xây dựng quân đội chính quy. Ngoài đoàn cố vấn quân sự, Trung Quốc còn cử Trần Canh (nguyên Phó Tư lệnh cánh quân Tây Nam, Tư lệnh quân khu Vân Nam) cùng một số cán bộ quân sự, trực tiếp làm cố vấn trong chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950.

Trong giai đoạn 1950-1951, cố vấn Trung Quốc tham gia tham mưu tích cực cho các chỉ huy Việt Nam về chiến thuật quân sự. Tuy nhiên trong giai đoạn này, các chiến dịch do Quân đội Việt Minh phát động đều không thu được nhiều kết quả mà lại bị thương vong nhiều, cho thấy chiến thuật của cố vấn Trung Quốc không phù hợp với quy mô, trang bị của Quân đội Nhân dân Việt Nam, vốn nhỏ hơn nhiều so với quân đội Trung Quốc. Đến chiến dịch Hòa Bình năm 1952, Quân đội Việt Minh đã tự tiến hành chiến dịch mà không cần cố vấn Trung Quốc tham gia. Từ đó về sau, vai trò của cố vấn Trung Quốc chỉ dừng ở mức tham khảo ý kiến.

Ngày 2 tháng 9 năm 1953, Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn lãnh đạo cấp caođến nơi ở của đoàn cố vấn Trung Quốc để trao Huân chương Hồ Chí Minh cho các thành viên của đoàn cố vấn như Vi Quốc Thanh, La Quý Ba, biểu dương tinh thần quốc tế vô sản trong đoàn cố vấn, cảm ơn sự giúp đỡ mà Đảng Cộng sản, Chính phủ Trung Quốc đã dành cho Việt Nam.


Liên Xô

Trong giai đoạn đầu, Liên Xô đã hình thành quan hệ chính trị toàn diện với Việt Minh, ủng hộ chủ trương và đường lối khôi phục và xây dựng miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, quan hệ này lại không đậm đà bằng quan hệ với các nước khác. Ngày 3 tháng 2 năm 1950, Liên Xô mới đặt quan hệ ngoại giao với Indonesia (sau Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 3 ngày), song tháng 1 năm 1953 Liên Xô đã cử đại sứ đi Jakarta, trong khi đó mãi đến gần 2 năm sau tức là ngày 4 tháng 11 năm 1954, Liên Xô mới cử Lavraschev - đại sứ đầu tiên của Liên Xô đến Hà Nội.


Về phía Pháp

Hoa Kỳ

Chính sách chống cộng của Mỹ

Sau Thế chiến 2, Anh và Pháp liên minh với nhau bảo vệ hệ thống thuộc địa cũ. Theo chính phủ Mỹ, một mặt Mỹ ủng hộ khái niệm quyền dân tộc tự quyết, mặt khác nước này cũng có quan hệ chặt chẽ với các đồng minh châu Âu của mình, những nước đã có những tuyên bố đế quốc đối với những thuộc địa cũ của họ. Chiến tranh Lạnh chỉ làm phức tạp thêm vị trí của Mỹ, việc Mỹ ủng hộ quá trình phi thực dân hóa được bù lại bằng mối quan tâm của Mỹ đối với sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản và những tham vọng chiến lược của Liên Xô tại Châu Âu. Một số đồng minh NATO khẳng định rằng thuộc địa cung cấp cho họ sức mạnh kinh tế và quân sự mà nếu không có nó thì liên minh phương Tây sẽ tan rã. Gần như tất cả các đồng minh châu Âu của Mỹ đều tin rằng thuộc địa sẽ cung cấp sự kết hợp giữa nguyên liệu và thị trường được bảo vệ đối với hàng hóa thành phẩm, từ đó sẽ gắn kết các thuộc địa với châu Âu.

Hoa Kỳ cần có quan hệ đồng minh với Pháp để thiết lập sự cân bằng với sức mạnh của Xô Viết ở châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ II. Từ tháng 9 năm 1945, Washington đã có một số hành động ở Đông Nam Á. 
Hồ Chí Minh nhận thấy Hoa Kỳ đang muốn đóng vai trò lớn hơn ở khu vực Thái Bình Dương, ông đã làm tất cả để thiếp lập mối quan hệ với Hoa Kỳ thông qua việc giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản. Đổi lại, cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS (U.S Office of Strategic Services) giúp đỡ y tế, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt Minh.

Tại Mỹ, các thế lực chống cộng cực đoan nắm quyền, McCarthyHoover thực hiện các chiến dịch chống cộng theo dõi, phân biệt đối xử, sa thải, khởi tố và bắt giam nhiều người bị xem là cộng sản hoặc ủng hộ chủ nghĩa cộng sản. Một bộ phận trong số những nạn nhân bị mất việc, bị bắt giam hoặc bị điều tra quả thật có quan hệ trong hiện tại hoặc trong quá khứ với Đảng Cộng sản Hoa Kỳ. Nhưng đại bộ phận còn lại có rất ít khả năng gây nguy hại cho nhà nước và sự liên quan của họ với người cộng sản là rất mờ nhạt. Những điều này khiến công chúng nghĩ rằng những người cộng sản là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia.

Sự cạnh tranh chiến tranh lạnh với Liên Xô là mối quan tâm lớn nhất về chính sách đối ngoại của Mỹ trong những năm 1940 và 1950, chính phủ Truman và Eisenhower ngày càng trở nên lo ngại rằng khi các cường quốc châu Âu bị mất các thuộc địa của họ, các đảng cộng sản được Liên Xô ủng hộ sẽ đạt được quyền lực trong quốc gia mới. Điều này có thể làm thay đổi cán cân quyền lực quốc tế theo hướng có lợi cho Liên Xô và loại bỏ quyền truy cập vào nguồn lực kinh tế từ đồng minh của Mỹ. Các sự kiện như cuộc đấu tranh giành độc lập của Indonesia (1945-1950), cuộc chiến tranh của Việt Nam chống Pháp (1945-1954), và chủ nghĩa xã hội dân tộc công khai của Ai Cập (1952) và Iran (1951) đã khiến Hoa Kỳ lo lắng rằng các nước mới giành độc lập sẽ ủng hộ Liên Xô, ngay cả khi chính phủ mới không trực tiếp liên hệ với Liên Xô. Do vậy, Hoa Kỳ đã sử dụng các gói cứu trợ, hỗ trợ kỹ thuật và can thiệp đôi khi bằng quân sự để hỗ trợ các chính phủ thân phương Tây tại các quốc gia mới giành độc lập.

Từ năm 1949, sau khi Nội chiến Trung Quốc kết thúc, tiếp đó là chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, khuynh hướng thân Liên Xô tại nhiều nước Ả Rập, giới chính khách Mỹ cảm thấy lo sợ về làn sóng đi theo chủ nghĩa Cộng sản tại các nước thế giới thứ ba. Chính phủ Mỹ đưa ra Thuyết domino, theo đó Mỹ tin rằng nếu một quốc gia đi theo Chủ nghĩa cộng sản, các quốc gia thân phương Tây lân cận sẽ bị đe dọa. Bởi vậy, Mỹ bắt đầu viện trợ cho Pháp trong cuộc chiến chống lại Việt Minh (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), một tổ chức chính quyền họ cho là có liên hệ với Liên Xô và Trung Quốc.

Mỹ tuyên bố "ủng hộ nguyện vọng độc lập dân tộc tại Đông Nam Á" trong đó có Việt Nam, nhưng với điều kiện "lãnh đạo của những nhà nước mới không phải là người cộng sản", họ đặc biệt ủng hộ việc thành lập các "nhà nước phi cộng sản" ổn định trong khu vực tiếp giáp Trung Quốc. Theo thuyết Domino, Mỹ hỗ trợ các đồng minh tại Đông Nam Á để chống lại các phong trào mà họ cho là "lực lượng cộng sản muốn thống trị Châu Á dưới chiêu bài dân tộc". Bằng viện trợ, Mỹ ép Pháp phải nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam. Chính sách của Mỹ là hỗ trợ người Pháp chiến thắng trong cuộc chiến chống Việt Minh, sau đó sẽ ép người Pháp rút lui khỏi Đông Dương.


Mỹ hỗ trợ Pháp

Năm 1947, Anh trao trả độc lập cho Ấn Độ, thuộc địa lớn nhất của Anh, mở đầu cho xu hướng phi thực dân hoá sau thế chiến thứ II. Hơn nữa chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của Pháp đã thất bại. Pháp đã mệt mỏi vì chiến tranh đã hao tổn quá lớn, người Pháp mong muốn "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt", hy vọng giảm bớt hao tổn người và tiền bạc.

Để đối phó với các áp lực chính trị, quân sự và thích ứng với xu hướng phi thực dân hoá một mặt Pháp đàm phán với Bảo Đại thành lập Quốc Gia Việt Nam năm 1949, phát triển quân đội người bản xứ. Một mặt, Pháp thuyết phục Mỹ rằng Pháp đang "chống cộng" chứ không phải mục đích chính là tái chiếm thuộc địa. Người Mỹ trợ giúp tiền bạc cho Pháp để giúp họ tiêu diệt Việt Minh. Mỹ dự định sau khi giúp Pháp và Quốc gia Việt Nam đánh bại Việt Minh thì sẽ ép Pháp rút lui khỏi Việt Nam.




Đầu năm 1950, Hoa Kỳ bắt đầu gửi viện trợ quân sự cho người Pháp ở Đông Dương. Do chiến tranh Triều Tiên bùng nổ đã buộc Mỹ phải đẩy nhanh việc cung cấp viện trợ cho Pháp. Tháng 1 năm 1951 người Pháp nhận được 20 xe tăng M24, 40 khẩu pháo 105-mm và 250 quả bom thông thường và cả bom napalm cùng đạn dược và vũ khí tự động. Tới tháng 1/1953, Pháp đã nhận được 900 xe thiết giáp cùng với 15.000 xe vận tải các loại, gần 2.500 khẩu pháo, 24.000 vũ khí tự động, 75.000 vũ khí cá nhân và gần 9.000 máy radio. Ngoài ra, Không quân Pháp đã nhận được 160 máy bay F6F Hellcat và F8F Bearcat, 41 máy bay ném bom B-26 Invader, 28 máy bay vận tải C-47 cùng với 155 động cơ máy bay và 93.000 quả bom. Cho tới khi Pháp thất bại hoàn toàn thì phía Mỹ đã viện trợ trên 1 tỷ USD mỗi năm (tương đương khoảng 5,8 tỷ USD theo thời giá năm 2004) và chi trả 78% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương.

Đến cuối chiến tranh, 80% chiến phí chủ yếu của Pháp do Mỹ cung cấp, lên đến 1,5 tỷ USD. Cuối chiến tranh, người Mỹ trực tiếp chở khoảng 16.000 quân Pháp vào Điện Biên Phủ và hỗ trợ không quân cho quân Pháp. Tính đến tháng 1 năm 1954, riêng về vũ khí và phương tiện chiến tranh, Mỹ đã viện trợ cho quân Pháp ở Đông Dương 360 máy bay, 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 390 tàu chiến và tàu quân sự, 16.000 xe quân sự các loại, 175.000 súng trường và súng máy. Nhờ số lượng vũ khí viện trợ này mà người Pháp mới có thể duy trì được cuộc chiến.

Thời gian này ở tất cả các cấp bộ trong quân đội viễn chinh Pháp đều có cố vấn Mỹ. Người Mỹ có thể đến bất cứ nơi nào kiểm tra tình hình không cần sự chấp thuận của tổng chỉ huy Pháp. Sự phụ thuộc quá nhiều của Pháp vào Mỹ khiến tướng Navarre than phiền trong hồi ký: 
"Địa vị của chúng ta đã chuyển thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần cho Mỹ."

Đến nay nhiều người Mỹ vẫn không biết vì sao họ bị lôi kéo vào chiến tranh Đông Dương, dù nhiều người Mỹ còn chưa biết Việt Nam nằm ở góc nào trên bản đồ thế giới. Ít người nói đến việc nước Mỹ đã bị Pháp kéo vào cuộc, cũng như những thương vong đầu tiên của Mỹ ở Đông Dương đã xảy ra ngay từ trận Điện Biên Phủ. Thực sự thông qua việc tài trợ cho Pháp, nước Mỹ đã dính líu đến cuộc chiến ở Đông Dương từ rất lâu trước khi các lực lượng quân sự Mỹ đầu tiên đến Việt Nam.


Hiệp định Genève




Hội nghị Genève khai mạc ngày 26 tháng 4 năm 1954 để bàn về vấn đề khôi phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Do vấn đề Triều Tiên không đạt được kết quả nên từ ngày 8 tháng 5 vấn đề Đông Dương được đưa ra thảo luận
.
Do sức ép của Trung Quốc và Liên Xô, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Việt Minh) đồng ý với một bản hiệp định mang lại cho họ ít hơn những gì họ đã giành được trên chiến trường. Tuy ba nước Lào, Campuchia và Việt Nam được tuyên bố độc lập, và điều quan trọng là sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam được công nhận, nhưng Việt Nam bị tạm thời chia đôi thành hai khu vực quân sự để hai bên quân đội Việt Minh và Pháp. Quân Pháp sẽ rút dần khỏi Việt Nam. Cuộc tổng tuyển cử đi đến thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện trong vòng 2 năm.

Ngày 22 tháng 7 năm 1954, Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: "Đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ” và khẳng định: “Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi của nước ta, nước ta nhất định thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng”. Cũng trong ngày này Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm ra lệnh treo cờ rủ toàn Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào để bày tỏ quan điểm phản đối sự chia đôi đất nước.


Kết quả



Trong cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất này, thương vong của Pháp là 140.992, trong đó có 75.867 chết và mất tích, 65.125 bị thương; các quân đội đồng minh ở Đông Dương chịu thương vong 31.716 người, trong đó có 18.714 chết và mất tích, 13.002 bị thương. Về vũ khí, Pháp mất 435 máy bay, 603 tàu chiến và ca nô, 9.283 xe quân sự, 255 pháo, 504 xe quân sự và 130 nghìn súng các loại. Số thương vong của Việt Minh được Pháp ước tính khoảng 300.000 chết và 500.000 bị thương (hiện vẫn chưa có số liệu kiểm chứng từ phía Việt Nam). Khoảng 25.000 dân thường Việt Nam bị thiệt mạng.

Cuộc chiến đã góp phần làm nước Pháp suy sụp và phân hóa. Càng về cuối cuộc chiến, sự phản đối chiến tranh trong lòng nước Pháp ngày càng dữ dội hơn. Đại tướng Pháp Henry Navare viết:
Các đảng viên Cộng sản (Pháp) ngay từ lúc này đã tích cực bênh vực Việt Minh. Cuộc chiến tranh Đông Dương, đối với họ là một "cuộc chiến tranh bẩn thỉu". Còn đối với những người khác, đây là một "cuộc chiến tranh nhục nhã", "cuộc chiến tranh không dám xưng tên"




Chi phí cho Chiến tranh Đông Dương tăng hàng năm. 
Năm 1945 :    3 tỷ Franc
Năm 1946 :  27 tỷ Franc
Năm 1947 :  53 tỷ Franc
Năm 1948 :  89 tỷ Franc
Năm 1949 : 130 tỷ Franc
Năm 1950 : 201 tỷ Franc
Năm 1951 : 308 tỷ Franc
Năm 1952 : 535 tỷ Franc

Tổng cộng trong toàn bộ cuộc chiến, nước Pháp đã chi phí 3.370 tỷ Franc (vượt dự kiến 2.385 tỷ Franc), tương đương gần 60 tỷ USD theo thời giá 2008, (trung bình là 1 tỉ Franc/ngày), bằng 28% giá trị GDP của Pháp năm 1953.

Chính phủ Pháp thay đổi 20 lần, trung bình mỗi chính phủ chỉ tồn tại 7 tháng (có chính phủ chỉ tồn tại trong 7 ngày). 7 lần cao uỷ Pháp bị triệu hồi, 8 tổng chỉ huy quân đội Pháp kế tiếp nhau bị thua trận.

Theo kết quả của hiệp định Genève, Việt Minh vừa giành được thắng lợi quan trọng trên chiến trường, tập kết về miền Bắc. Quốc gia Việt Nam tuy đã tách khỏi Liên Hiệp Pháp trước khi Hiệp định Genève được ký kết vẫn cùng quân đội Pháp tập kết về miền Nam. Trên 1 triệu người dân từ miền Bắc đã di cư vào Nam (trong đó có khoảng 800.000 người Công giáo, chiếm khoảng 2/3 số người Công giáo ở miền Bắc), và 140.000 người (đa số là cán bộ kháng chiến của Việt Minh) từ miền Nam tập kết ra Bắc.

Ngày 10 tháng 10 năm 1954, quân Pháp chính thức rút khỏi Hà Nội, Quân đội Việt Minh vào tiếp quản thủ đô. Thời kỳ hòa bình tại miền Bắc Việt Nam bắt đầu. Ở miền Nam, quân đội Pháp dần dần rút đi và trao quyền lực cho chính quyền Quốc gia Việt Nam, trong khi Hoa Kỳ tăng cường các hoạt động tình báo, tuyên truyền, viện trợ và cố vấn cho Quốc gia Việt Nam để chính thể này có thể đương đầu với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và lực lượng Việt Minh còn lại ở miền Nam.




Hội nghị tuyên bố chấm dứt chiến tranh ở Lào và Campuchia, bảo đảm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của hai nước này, và hai nước sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do theo các nguyên tắc Hiến pháp mỗi nước, bảo đảm tôn trọng các quyền tự do cơ bản. Hai nước sẽ không tham gia vào bất kỳ một liên minh quân sự nào. Năm 1955 Vương quốc Lào, Vương quốc Campuchia chính thức trở thành thành viên Liên hợp quốc, tuyên bố chính sách đối ngoại hòa bình trung lập.

Sau 2 năm, hiệp định Genève đã không đem lại được hòa bình cho Đông Dương. Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam không được chính quyền Quốc gia Việt Nam thực hiện (với lý do "nghi ngờ về việc có thể bảo đảm những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc"). Việt Nam bị chia cắt thêm 20 năm nữa với chiến tranh tiếp tục nổ ra trên toàn Đông Dương với sự tham gia của Mỹ thay thế cho Pháp. Cuộc chiến mới có quy mô và sức tàn phá lớn hơn nhiều.

Trên phạm vi thế giới, sự thắng lợi của người Việt Nam trong Chiến tranh Đông Dương cũng thúc đẩy sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cổ điển và hệ thống thuộc địa trên toàn thế giới. Nhân dân các nước thuộc địa khác thấy rằng quân đội các cường quốc châu Âu thực tế không phải là "bất khả chiến bại", nếu người Việt Nam đã có thể đánh bại được thì dân tộc họ cũng có thể. Chẳng bao lâu sau đó, lực lượng Mặt trận Giải phóng Dân tộc tại Algérie (thuộc địa có diện tích lớn nhất của Pháp) được thành lập, phát động đấu tranh vũ trang để giành độc lập cho đất nước mình. Một năm sau đó, các phong trào tương tự nổ ra ở Cameroun, Tunisie, Maroc. Sự nổi dậy đồng loạt tại các thuộc địa khiến việc duy trì Liên hiệp Pháp trở nên rất khó khăn bởi Pháp không thể có đủ tài chính và lực lượng quân sự để chống lại các phong trào độc lập tại nhiều nơi cùng lúc.

Năm 1958, Cộng đồng Pháp khai sinh và Liên hiệp Pháp chấm dứt tồn tại. Điều 86 Hiến pháp Pháp (năm 1958) quy định mỗi quốc gia hội viên thuộc Cộng đồng Pháp có thể độc lập sau khi ký kết các hiệp ước với Pháp và có quyền lựa chọn vẫn là hội viên của Cộng đồng Pháp hoặc ra khỏi khối. Ngoại trừ Algérie, các quốc gia còn lại từng là thuộc địa của Pháp, nay thuộc Cộng đồng Pháp chọn giải pháp tiếp tục đàm phán với chính phủ Pháp để độc lập. Trong thập niên 60, các nước thuộc Cộng đồng Pháp như Algérie, Tunisie và Maroc lần lượt ký kết hiệp ước với Pháp để tuyên bố độc lập. Đến năm 1967, Pháp ký hiệp định trao trả độc lập cho phần lớn các thuộc địa của mình. Cũng trong xu thế phi thực dân hóa trên quy mô toàn cầu, chỉ trong năm 1960, 17 nước thuộc địa châu Phi đã tuyên bố độc lập, và đây được coi là Năm Châu Phi.


CUỘC CHIẾN GIỮA VIỆT MINH VÀ PHÁP

1950 - 1954 Vietnam: The First Indochina War (44 phút)
http://www.youtube.com/embed/FmF9tUxW3E0





lundi 24 février 2014

SỨC KHOẺ : Nguyên nhân, cách phòng tránh và điều trị 'Bệnh Gút'


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Gút – nguyên nhân và xu hướng mắc bênh

Gút (Gout – Crise de goutte) là thể bệnh xuất hiện từ rất lâu và được xem là bệnh của người giàu do ăn quá dư thừa chất, cụ thể là dư thừa đạm. Nhưng ngày nay, căn bệnh này phổ biến đến mức diễn ra ở mọi lứa tuổi và mọi tầng lớp, nhưng tỷ lệ mắc bệnh cao nhất vẫn là nam giới ở độ tuổi từ 35-45 (chiếm khoảng 95% số ca mắc bệnh).

Ở người bình thường, lượng acid uric (uric acid  - Acide urique) trong máu được duy trì ở mức cố định: 5mg% ở nam và 4mg% ở nữ, tùy độ tuổi và có sự thay đổi. Để mức acid uric cân bằng hàng ngày, acid uric được thải ra ngoài chủ yếu theo đường thận qua nước tiểu và một phần qua phân và các đường khác.


Hiện nay nguyên nhân gây ra thể bệnh đã được xác định rõ, đó là do cơ thể dư thừa lượng axit uric (có thể do sản xuất ra quá nhiều hoặc rối loạn sự đào thải chất này qua đường nước tiểu). Các phân tử axit uric khi gặp điều kiện thuận lợi sẽ kết tủa và lắng đọng thành các tinh thể muối urat (monosodium urate) ở bao các khớp, xương, sụn, các tổ chức dưới da gây ra tình trạng viêm sưng tại những chỗ bị lắng đọng.

Gút hay chứng tăng axít uric huyết (một dạng viêm khớp), là căn bệnh có liên quan đến sự trao đổi chất, do lượng axít uric tích tụ ở các khớp, tạo ra các tinh thể và làm xuất hiện những cơn đau buốt. Chúng thường xảy ra ở khớp ngón chân cái, nhưng các khớp gối, mắt cá, chân, tay, cổ và khuỷu tay cũng bị ảnh hưởng.

Cơn đau rất nặng được mô tả dữ dội và nhiều khi bệnh nhân không dám đắp mền vì chỉ cần chạm nhẹ vào cũng gây ra cơn đau dữ dội.

Bệnh gút là kết quả của một quá trình tích tụ, có thể kéo dài trong nhiều tháng hoặc nhiều năm. Bệnh gút có thể gây ra nhiều rắc rối trong công việc và các sinh hoạt thường ngày của người bệnh. Thông thường, khoảng 95% bệnh nhân mắc phải căn bệnh này là đàn ông, phụ nữ chỉ chiếm 5%.


Những nguyên nhân gây ra gút

- Thứ nhất là do bẩm sinh. Có nhiều người khi sinh ra đã mang cơ chế sản sinh nhiều axit uric nên hàm lượng chất này trong cơ thể luôn ở mức cao từ nhỏ.

- Thứ hai là do con người ăn quá nhiều thực phẩm chứa purin (như cá, tôm, cua, gan…hay uống nhiều rượu bia). Cơ thể dư thừa chất purin sẽ làm gia tăng lượng axit uric vì các phản ứng sinh hóa trong cơ thể sẽ chuyển hóa purin và sản sinh ra axit uric.

- Thứ ba là do cơ thể tự tăng cường sản sinh purin nội sinh từ việc phá hủy các tế bào, tổ chức trong quá trình điều trị các loại bệnh như đa hồng cầu, đa u tủy xương, hay tiêu diệt các khối u ung thư.


Một số cách giúp chế ngự cơn đau do gút

Thường thì cơn gút ó thể bị đẩy lui bằng các thuốc hiện có và nếu bệnh nhân chịu theo cuộc điều trị và chấp nhận ăn kiêng thì có thể ngăn chặn được bệnh.

Nên nhớ rằng đây là loại bệnh không có cách điều trị tận gốc bệnh gút, nghĩa là bệnh nhân phải chấp nhận chế độ ăn kiêng và theo dõi bệnh suốt đời.

Nhưng có rất nhiều biện pháp để kiềm chế cơn đau như sau :
  • Dùng túi đá chườm lên khu vực khớp đang bị sưng và đau. Không nên đặt đá trực tiếp lên da vì điều này có thể làm da bị tổn thương.
  • Nghỉ ngơi cho đến khi vùng khớp đang bị đau dịu trở lại. Sau cơn đau khớp, nên nghỉ ngơi khoảng 24 giờ để giúp khớp hồi phục.
  • Thực hiện động tác nâng chân lên xuống, giúp máu lưu thông đến vùng khớp mắt cá đang bị sưng dễ dàng hơn.
  • Không sử dụng aspirin vì loại thuốc này làm lượng a-xít uric bị giữ lại nhiều hơn.
  • Có thể sử dụng loại băng gạc chuyên dùng để bao bọc vùng khớp bị đau.

Những bí quyết ngăn ngừa các cơn đau do gút

Để phòng ngừa bệnh gút, con người nên cải thiện chế độ ăn uống và sinh hoạt điều độ, hợp lý.

1. chế độ ăn uống

Ăn uống điều độ, đúng bữa, không được bỏ bữa.

Kiêng tuyệt đối những thực phẩm giàu đạm có gốc Purin như : Hải sản, các loại thịt có màu đỏ như: Thịt trâu, bò, ngựa, thịt dê; Phủ tạng động vật như : Lưỡi, lòng, tim, gan, thận, óc; Trứng gia cầm nói chung, nhất là các loại trứng đang phát triển thành phôi như trứng vịt lộn….

Tăng cường ăn các loại rau củ quả, bổ sung nhiều chất xơ (fiber - fibre), cả những loại rau có tác dụng giúp đào thải bớt lượng chất purin ra khỏi cơ thể như rau cần, dưa chuột, dưa hấu,
cam, quýt, mía,…


Kiêng tất cả các loại thực phẩm có tốc độ tăng trưởng nhanh như : Măng tre, măng trúc, măng tây, nấm, giá, bạc hà (dọc mùng) vì sẽ làm gia tăng tốc độ tổng hợp acid uric trong cơ thể.

Hạn chế sử dụng các thực phẩm kích thích như ớt, tiêu ... và không sử dụng các thức uống
kích thích như café, trà đặc,…

Tuyệt đối không uống bất kỳ một dạng chất cồn nào như : Rượu, bia, cơm rượu, nếp than… Hạn chế đồ uống có gaz, nước uống ngọt nhiều đường vì sẽ làm tăng nguy cơ béo phì,
một trong những yếu tố tăng nặng bệnh gút.


Sữa và các sản phẩm từ sữa như sữa chua (yogurt – yaourt) là rất tốt để phòng ngừa gút.
Nên uống nhiều nước để tăng cường đào thải axit uric ra khỏi cơ thể,
khoảng từ 2,5-3 lít nước trong ngày.

2. chế độ luyện tập thể dục thể thao

Nên thường xuyên vận động nhưng vừa sức, tránh việc ngồi hay nằm một chỗ quá nhiều,
hay vận động quá sức của mình.


Luôn giữ tinh thần thoải mái, hạn chế stress, tránh thức khuya.
 Nên ngâm chân giữ ấm và giúp tinh thần thoải mái khoảng 20-30 phút mỗi ngày trước khi đi ngủ.
Vào mùa đông, khi thời tiết giá lạnh, cần giữ cho bàn tay và chân luôn kín và ấm
vì đây là khoảng thời gian mà những cơn đau khớp thường xảy ra.


Điều trị bệnh gút  bằng phương pháp dùng thuốc tây y

Hiện nay, để điều trị bệnh gút, ngoài phương pháp dùng thuốc tây y theo các chỉ định của bác sĩ chuyên khoa thì người bệnh có thể sử dụng các bài thuốc dân gian có tác dụng điều trị gút rất hiệu quả.

Nếu muốn điều trị gút bằng tây y, người bệnh cần đi khám và mua thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Các loại thuốc thường dùng để điều trị hiện nay bao gồm :
  • Kháng viêm không steroid (NSAID) : Đây là loại thuốc được chọn lựa đầu tiên khi cơn đau bùng phát mà người bệnh chưa từng điều trị, dùng tối thiểu 5-7 ngày. Có một điều chú ý là không dùng NSAID cho người bị các chứng bệnh như suy thận, loét dạ dày, suy tim hay có mẫn cảm với thành phần của thuốc.
  • Colchicin : Thuốc này có tác dụng cân bằng môi trường, được sử dụng cho các cơn cấp tính. Do đó cần giảm liều dùng khi thuốc đã bắt đầu có tác dụng, và không được sử dụng thuốc trong thời gian dài vì có thể dẫn đến các bệnh về cơ. Hạn chế dùng thuốc với người mắc bệnh dạ dày, ruột, thận, gan,…
  • Các corticoid : Thuốc này dùng để tiêm trực tiếp vào khớp nhưng lưu ý chỉ tiêm khi không bị nhiễm khuẩn khớp hay nhiễm khuẩn da chỗ bị và phải tiêm vào đúng vị trí.
  • Các thuốc thải uric : Gồm benzbromaron, probenecid, sulphipyrazon.
Khi sử dụng các loại thuốc này thì người bệnh cần uống nhiều nước để có đủ lượng nước tiểu thải ra kèm uric, nếu không thì rất dễ gây sỏi do lượng uric lắng đọng và kết tinh thành muối urat trong thận.

Có một lưu ý rằng: người bệnh cần đi khám và xác định chắc chắn mình mắc bệnh gút thì mới được sử dụng các loại thuốc để chữa trị. Người bệnh cần dùng thuốc đúng loại, đúng liều lượng theo chỉ định của bác sĩ, tránh trường hợp dùng thuốc một cách tự ý.


Biến chứng bệnh Gút - Hạt TOPHI

Tophi là gì?
Tophi là những hạt lồi thường xuất hiện dưới da do lắng đọng tinh thể acid uric ở bệnh nhân gout mãn tính.

Hạt tophi thường xuất hiện ở tai, ngón tay, ngón chân, xung quanh mắt cá chân và khuỷu tay.

Hạt tophi rất dễ nhận biết. Khi mới xuất hiện, hạt tophi thường xuất hiện nhiều, nhỏ và hay di chuyển. Khi phát triển lớn hơn, hạt to phi là những nốt sần máu trắng, cố định, xuất hiện ở gần các khớp và hạn chế vận động ở bệnh nhân gout.

Bệnh nhân gout mãn tính nếu không kiểm soát acid uric trong máu tốt sẽ dẫn đến hình thành các hạt tophi nhanh và nhiều hơn. Theo thống kê, hạt tophi thường xuất hiện sau 10 năm tính từ ngày xuất hiện cơn gút cấp nhưng cũng có thể xuất hiện sớm hơn, đặc biệt người cao tuổi.

Hạt tophi có gây nguy hiểm

Khi mới xuất hiện những hạt tophi nhỏ, đa số bệnh nhân gout đều bỏ qua. So với cơn đau gút cấp thì hạt tophi dường như vô hại. Tuy nhiên nếu không điều trị, acid uric trong máu lại tiếp tục lắng đọng và hạt tophi phát triển dần trở thành khối u.


Khối u (hạt tophi lớn) gây đau khớp , biến dạng khớp, phá hủy xương và sụn.

Trong một số trường hợp khác, tinh thể acid uric trong khối tophi có thể được hòa tan trở lại và đi vào máu. Điều này làm tăng nồng độ acid uric trong máu và gây ra cơn gút cấp.

Điều trị loại bỏ hạt tophi

Giảm nồng độ acid uric trong máu giúp làm tan tinh thể acid uric trong máu, và giảm kích thước hạt tophi. Bạn nên lựa chọn sản phẩm đông y giúp hòa tan acid uric từ hạt tophi một cách từ từ, tránh gây lắng đọng urat tại thận như thuốc Tây y. Khi lựa chọn thuốc Tây y điều trị gout tophi, bệnh nhân gout nên tham khảo ý kiến bác sỹ.

Đối với hạt tophi to, thuốc giảm acid uric trong máu không làm tan hoàn toàn được. Bạn có thể đến bệnh viện làm tiểu phẫu đơn giản.




mardi 18 février 2014

SỨC KHOẺ : Những lời khuyên để đối phó với chuột rút cơ bắp (crampes musculaires - muscle cramps)


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Có ai mà chưa bao giờ bị gián đoạn khi đi bộ hoặc vào ban đêm bởi cơn đau ở bắp chân?
Chuột rút tuy không nguy hiểm nhưng có thể nhanh chóng trở thành suy nhược.
Phải làm gì để ngăn chặn khi bị chuột rút ?

Nguyên nhân chứng chuột rút

Nghiên cứu cho thấy tăng hoạt động trong các cơ bắp là nguyên nhân dẫn đến chứng chuột rút. Trong một số trường hợp, chuột rút xảy ra cũng có thể liên quan đến nỗ lực thể chất quá sức, thiếu làm nóng, thiếu nước và thiếu những chất khoáng trong cơ thể như kali (potassium), canxi (calcium) và magiê (magnésium). Điều này có thể xảy ra sau khi tập thể dục, đổ mồ hôi quá nhiều mà không được bù đủ nước, dùng thuốc lợi tiểu, đang có thai. Đôi khi, một số bệnh liên quan đến thần kinh như Parkinson, các bệnh về bắp thịt, các rối loạn về thần kinh cũng gây ra triệu chứng chuột rút.


Nguyên nhân dẫn đến chứng chuột rút : khi bắp thịt co lại, trao đổi khoáng chất xảy ra. Sự gián đoạn trao đổi này nhưng cũng sự tích tụ của acid lactic và các chất độc trong cơ cứng lại và chuột rút xảy ra.


Những điều cần phải tránh
  • Lạnh, đặc biệt là ở những người bơi lội trong nước lạnh. Nó làm giảm lưu lượng máu và gây tổn thất cho cơ bắp. Điều này dẫn đến mệt mỏi và sự khởi đầu của chuột rút.
  • Nỗ lực thể chất quá căng thẳng và kéo dài, cố gắng quá sức cũng có tác dụng tương tự.
  • Nhiệt độ trong cơ thể, đặc biệt là các vận động viên và những công nhân làm việc nặng không luôn luôn nghĩ đến việc đến chuyên uống nước.
  • Uống quá nhiều cà phê, trà, rượu, thuốc lá, đồ uống tăng lực (boisson énergétique) ví dụ như Red Bull làm trì hoãn việc loại bỏ các độc tố. Tất cả các loại đồ uống có chứa caféine ví dụ như  Coca Cola làm mất nước.
  • Uống thuốc như chống cholesterol, chống hen suyễn, lợi tiểu, nhuận tràng và điều trị chống ung thư.

Đảm bảo bổ sung nước

  • Để ngăn chặn chứng chuột rút, điều cần thiết phải uống ít nhất 1,5 lít nước mỗi ngày như hiệu Hépar giàu magiê (magnésium). 
  • Tại sao: khi cơ vẫn chưa được cung cấp đầy đủ nước, nó sẽ thiếu nước, không còn có thể tiếp cận với một phần của các khoáng chất cần thiết như kali (potassium), canxi (calcium) và magiê (magnésium) mà bắp thịt cần và cơ cứng lại đột ngột. 
  • Khi làm thể thao: cơ thể loại bỏ rất nhiều nước và các khoáng chất thông qua mồ hôi. Sau đó điều quan trọng là uống thường xuyên trước, trong và sau khi tập thể dục ít nhất một lít bổ sung. Bất kỳ thức uống từng ngụm nhỏ trong mỗi 20 phút. 
  • Cảnh báo: không nên xử dụng một số thuốc như thuốc lợi tiểu hoặc thuốc nhuận tràng gây ra sự mất cân bằng khoáng chất và chính là nguyên nhân làm chuột rút.


Các loại thực phẩm để chống chuột rút


  • Uống nước giàu magiê liên quan đến việc thư giãn của cơ bắp. Bạn cũng tìm thấy một số lượng tốt trong đậu lăng (lentilles), rau và đậu, ngũ cốc nguyên hạt, sôcôla đen (chocolat noir). 
  • Uống nước sinh tố trái cây cũng giúp loại bỏ độc tố trong cơ thể, đặc biệt là nếu bạn tập thể dục. 
  • Ăn 3 muỗng canh mật ong mỗi ngày để tăng các khoáng chất trong có thể. 
  • Hãy dùng tất cả các sản phẩm từ sữa, giàu canxi và kali (abricots. ..) trái cây khô và ăn 1 quả chuối / ngày (trái cây giàu kali). 
  • Tiêu thụ với điều độ: thịt đỏ, nội tạng và các loại thịt giàu đạm, bởi vì rất khó để loại bỏ các độc tố từ cơ thể. 

Phải làm gì khi bạn chơi thể thao


  • Trước và sau khi tập thể dục 10 phút với động tác vòng quay của thân cây, chân nâng và uốn đầu gối của bạn.
  • Uống thường xuyên trước, trong và sau khi tập thể dục trong từng ngụm nhỏ mỗi 20 phút.
  • Không vượt quá khả năng thể chất của bạn. Hãy dừng lại tập thể dục, nếu bạn cảm thấy rằng cơ thể của bạn không còn đủ khả năng.
  • Hãy lựa chọn cho đúng những thiết bị và đồ thể thao của bạn. Yên xe đạp quá thấp, cây vợt có tay cầm quá nhỏ nguyên nhân gây ra chuột rút. Giày thể thao quá chật hoặc quá rộng. Nên mua quần áo thể thao chống lại lạnh và ẩm ướt.

Cách xử lý trong trường hợp bị chuột rút


  • Dừng lại tất cả hoạt động. Hãy ngồi hoặc nằm xuống.
  • Căng cơ bắp: nằm xuống và làm động tác như trong hình trên với một chiếc khăn. Đoạn này nên được làm chậm, từ từ, nhẹ nhàng phút và duy trì. Lặp lại cho đến khi sự biến mất của chuột rút. 
  • Nhẹ nhàng xoa bóp các cơ bắp với dầu bôi (baume) giảm đau khi bị chuột rút như Décontractil hoặc Algipan. 
  • Uống nước khoáng (ví dụ Hépar giàu magiê).
  • Áp khăn nóng vào chỗ cơ bắp bị chuột rút.


Cách xử lý khi bị chuột rút ban đêm


Tuy không nguy hiểm, nhưng bị chuột rút ban đêm thường gây khó chịu và mất ngủ. Các triệu chứng chuột rút về đêm bao gồm co thắt dữ dội của cơ bắp chân, thường kéo dài vài giây hoặc nhiều lắm là vài phút, nhưng sau đó triệu chứng đau có thể kéo dài cả ngày hay vài ngày. Nghiên cứu cho thấy tăng hoạt động trong các cơ bắp là nguyên nhân dẫn đến chứng chuột rút. Trong một số trường hợp, chuột rút xảy ra cũng có thể liên quan đến việc thiếu nước và chất khoáng trong cơ thể như can xi, ma giê, natri và kali.
  • Tránh ngồi lâu, tư thế của chân lúc nghỉ ngơi phải thoải mái.
  • Hằng đêm, trước khi lên giường, dành 5 phút thực hiện các bài tập đơn giản để làm căng cơ bắp chuối.
  • Một số bằng chứng cho thấy sự thiếu hụt kali có thể gây ra chứng chuột rút về đêm. Nhiều người đã loại bỏ được chuột rút bằng cách bổ sung các loại thực phẩm giàu kali (chuối, mơ, chà là, nho, đậu, bông cải xanh, bắp cải, cam, bưởi, cà chua, thịt heo, khoai tây, cá ngừ...).
  • Nếu bị đánh thức do chuột rút, hãy áp dụng một số mẹo nhỏ để giảm đau: chườm nóng hoặc chườm lạnh bắp thịt bị đau; lắc và xoa bóp bắp thịt chỗ bị chuột rút rồi sau đó nâng cao chân lên.
  • Nhiều nghiên cứu cũng đã tìm ra mối liên hệ giữa hiện tượng chuột rút và việc mất nước. Vì thế, hãy đảm bảo bổ sung nước đầy đủ cho cơ thể để ngăn ngừa chuột rút vào ban đêm.
  • Phụ nữ mang thai, người ăn kiêng, người dùng thuốc lợi tiểu, những người vừa trải qua trận nôn mửa và tiêu chảy cũng có thể gặp chuột rút ở chân, vì lượng can xi và phốt pho của họ đã thoát ra khỏi cơ thể. Nếu bạn rơi vào một trong các trường hợp trên, nên tham khảo ý kiến bác sĩ để được điều trị kịp thời.

Rất nhiều ảnh hưởng người già


  • Người cao tuổi có thể dễ dàng hơn dễ bị chuột rút. Họ có thể xảy ra cả ngày lẫn đêm không có lý do rõ ràng. 
  • Nguyên nhân có thể: thiếu nước bởi vì họ quên uống, hoặc một chế độ ăn uống thiếu khoáng chất, bao gồm kali (potassium), canxi (calcium) và magiê (magnésium). 
  • Một vấn đề y tế. Trong trường hợp chuột rút lặp đi lặp lại, tốt nhất là để đảm bảo rằng không có một lý do sức khỏe, chẳng hạn như hạ kali máu (bị mất nhiều potassium) thông thường với tuổi tác, một suy tĩnh mạch đáng kể, bệnh viêm động mạch, các vấn đề thấp khớp, tiểu đường ...



jeudi 13 février 2014

VĂN NGHỆ : Ca sĩ Bỉ gốc Việt 'Phạm Quỳnh Anh - Hello Viet Nam'


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Đầu Xuân Giáp Ngọ 2014, tôi tình cờ nghe lại bài “Bonjour Vietnam” thấy cảm xúc làm sao, nhất là giọng ca truyền cảm và tuyệt vời của cô ca sĩ Bỉ gốc Việt Phạm Quỳnh AnhCảm ơn ông Marc Lavoine với tấm lòng chân tình mà nhac sĩ đã dành cho đất nước Việt Nam. Dù cách xa muôn trùng tôi lúc nào cũng hướng về quê hương đất nước và tự hào mình là người Việt Nam.


Tiểu sử

Quỳnh Anh sinh ngày 16 tháng 1 năm 1987 tại Liège (Bỉ), cha mẹ cô đều là người Việt Nam, cha cô trước đây từng là một du học sinh tại Bỉ từ năm 1971, cô còn một người em gái sinh năm 1992 tên là Lisa. Cô từng theo học tại trường Saint Stanislas, thành phố Mons, tốt nghiệp tú tài năm 2005.

Với niềm yêu thích ca hát từ nhỏ, cô đã từng theo cha mẹ tham gia nhóm "Hy vọng" chuyên biểu diễn dân ca cho cộng đồng. Quỳnh Anh đã không theo ngành Y của cha mà tập trung hẳn và lĩnh vực âm nhạc. 
  • Tháng 9 năm 2000, khi mới 13 tuổi, cô đã vượt qua hơn 1.000 thí sinh để giành giải nhất cuộc thi mang tên "Pour la gloire" của đài truyền hình RTBF (Bỉ). Tại cuộc thi này, cô đã may mắn gặp và được cộng tác với nhạc sĩ tài danh Marc Lavoine
  • Năm 2002, Quỳnh Anh ký hợp đồng ghi âm với Rapas Centre, chi nhánh của hãng Universal đặt tại Pháp. Tại đây, cô đã ghi âm bài hát "J’espère" (Tôi hy vọng) cùng với nhạc sĩ Marc Lavoine và cùng ông lưu diễn tại một số nước như: Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ,... chuyến lưu diễn đã gây tiếng vang lớn tại cộng đồng các nước nói tiếng Pháp.

  • Năm 2005, "Bonjour Vietnam", một bài hát được nhạc sĩ Marc Lavoine sáng tác, Guy Balbert dịch sang tiếng Anh với tên "Hello Vietnam", bản thu âm bài hát này được phát hành một cách tình cờ trên Internet nhưng đã gây ra một hiện tượng kỳ lạ, đặc biệt là trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Với giai điệu nhẹ nhàng, nội dung bài hát nói về tình cảm của một Việt kiều sinh ra xa quê hương dành cho đất nước Việt Nam. Sau thành công của "Bonjour Vietnam", Phạm Quỳnh Anh đã cho ra đời một đĩa đơn, trong đó bài hát này được cô trình bày bằng tiếng Anh với tên gọi "Hello Vietnam".
  • Tháng 5 năm 2008, Quỳnh Anh đã hát bài "Hello Vietnam" trong chương trình "Paris by Night 92", một chương trình ca nhạc tiếng Việt. Bản tiếng Việt của bài hát đựơc khẳng định sẽ ra đời sớm. Xin các bạn xem đoạn video "Hello Vietnam" dưới đây:
  • Vào tháng 11 năm 2008, Quỳnh Anh lần đầu tiên về thăm Việt Nam, nơi đã sinh ra cha mẹ cô, Quỳnh Anh nói: "...Tôi chỉ có thể xúc động khi nói về Việt Nam, cội nguồn của tôi, sự tha phương, nguồn gốc...Tôi có nhu cầu tìm lại quá khứ để hiểu hiện tại và tạo dựng tương lai. Điều làm tôi xúc động hơn cả là câu chuyện tôi kể, câu chuyện của tôi, đã nhờ những người khác mà sống lại. Quan trọng hơn nữa tôi được kết nối với họ thông qua bài hát này (Bonjour Vietnam)".
Sự nghiệp ca hát

Lời bài hát tiếng Việt: Xin chào Việt Nam (Hello Vietnam – Bonjour Vietnam)

Về miền quê mà tôi ngày đêm luôn nhớ mong.
Lòng tôi mong biết đất nước tôi, đất nước đã có bao đời,
Được nhìn bằng đôi mắt của mình được trở về cuội nguồn của tôi

Và qua phim Coppola,lòng thấy xót thương quê hương.
Bầy trực thăng bay trên cao, tàn phá xóm thôn nhỏ bé.
Ước mong về thăm chốn thiêng,
Mong sao quê hương dang tay đón tôi.
Mong ước đến ngày trở về,
Lòng tôi yêu mến, Việt Nam.

Bạn hãy nói tới mái tóc đen, tới đôi chân nhỏ bé,
Và màu da đã ngày đêm cùng tôi lớn lên.
Và mong sao đôi chân sẽ bước lên,
Từ những nơi tôi chưa từng đến.
Để được nghe bài dân ca êm dịu lướt trên sông.

Và tôi mới biết, về đất nước tôi qua phim.
Người dân quê hương tôi cày cấy, vui trong lời hát.
Ước mong về thăm đất nước tôi.
Quê hương bao năm tôi đã cách xa.
Mong ước đến ngày trở về,
Lòng tôi yêu mến Việt Nam.

Tôi sẽ theo cha về thăm làng quê, tổ tiên.
Theo những giấc mơ bay trên mênh mông đồng lúa.
Tôi thấy bao thân thương nơi đây quê tôi.
Như cây có gốc, tôi yêu đất nước tôi !

Ước mong về thăm đất nước tôi,
Mong sao quê hương dang tay đón tôi.
Tôi sẽ thăm những dòng sông,
Đồng quê xanh mát Việt Nam.

Ước mong về thăm chốn thiêng,
Mong sao quê hương dang tay đón tôi.
Mong ước đến ngày trở về.
Lòng tôi yêu mến Việt Nam.
Lòng tôi vang tiếng Việt Nam.

Lời bài hát tiếng Pháp : Bonjour Vietnam (Hello Vietnam – Xin Chào Việt Nam)

Raconte-moi ce nom étrange et difficile à prononcer
Que je porte depuis que je suis née
Raconte-moi le vieil empire et le trait de mes yeux bridés
Qui disent mieux que moi ce que tu n'oses dire
Je ne sais de toi que des images de la guerre
Un film de Coppola, des hélicoptères en colère

Un jour, j'irai là-bas
Un jour, dire bonjour à ton âme
Un jour, j'irai là-bas
Te dire bonjour, Vietnam

Raconte-moi ma couleur, mes cheveux et mes petits pieds
Qui me portent depuis que je suis née
Raconte-moi ta maison, ta rue, raconte-moi cet inconnu
Les marchés flottants et les sampans de bois
Je ne connais de mon pays que des photos de la guerre
Un film de Coppola, des hélicoptères en colère

Un jour, j'irai là-bas
Un jour, dire bonjour à mon âme
Un jour, j'irai là-bas
Te dire bonjour, Vietnam

Les temples et les Bouddhas de pierre pour mes pères
Les femmes courbées dans les rizières pour mes mères
Dans la prière, dans la lumière, revoir mes frères
Toucher mon arbre, mes racines, ma terre

Un jour, j'irai là-bas
Un jour, dire bonjour à mon âme
Un jour, j'irai là-bas
Te dire bonjour, Vietnam
Te dire bonjour, Vietnam

Lời bài hát tiếng Mỹ : Hello Vietnam (Bonjour Vietnam – Xin Chào Việt Nam)

Tell me all about this name, that is difficult to say.
It was given me the day I was born.

Want to know about the stories of the empire of old.
My eyes say more of me than what you dare to say.

All I know of you is all the sights of war.
A film by Coppola, the helicopter's roar.

One day I'll touch your soil.
One day I'll finally know your soul.
One day I'll come to you.
To say hello... Vietnam.

Tell me all about my colour, my hair and my little feet
That have carried me every mile of the way.

Want to see your house, your streets. Show me all I do not know.
Wooden sampans, floatings markets, light of gold.

All I know of you is the sights of war.
A film by Coppola, the helicopter's roar.

One day I'll touch your soil.
One day I'll finally know your soul.
One day I'll come to you.
To say hello... Vietnam.

And Buddha's made of stone watch over me.
My dreams they lead me through the fields of rice.
In prayer, in the light...I see my kin.
I touch my tree, my roots, my begin...

One day I'll touch your soil.
One day I'll finally know your soul.
One day I'll come to you.
To say hello... Vietnam.

One day I'll walk your soil
One day I'll finally know my soul
One day I'll come to you.
To say hello...Vietnam
To say hello...Vietnam
To say xin chao...Vietnam.



samedi 8 février 2014

BIỂN ĐÔNG : quần đảo 'Hoàng Sa' và quần đảo 'Trường Sa'


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Đánh dấu 40 năm ngày quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc đánh chiếm trước sự chiến đấu hào hùng của Hải quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa từ ngày 17 đến 19/01/1974, người Việt Nam ở trong và ngoài nước cũng không quên cảnh giác trước những hành động xâm lấn vô lối mang tính leo thang mới đây của lãnh đạo Bắc Kinh để có những đối sách phù hợp. 

Dù Việt Nam Cộng Hòa không còn nữa, nhưng 40 năm ý nghĩa của trận hải chiến bảo vệ biển đảo đã ghi khắc vào lòng người Việt Nam một quyết định lịch sử : quyết chiến bảo vệ tổ quốc dù đối phương mạnh hơn mình gấp bội. Nếu chúng ta cùng tưởng niệm 40 Năm Hoàng Sa trong tinh thần đó, anh linh của 74 người con yêu nước Việt khoác áo Hải quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa sẽ có thể mỉm cười yên giấc.

Biển Đông là một biển rìa lục địa và là một phần của Thái Bình Dương, trải rộng từ Singapore tới eo biển Đài Loan và bao phủ một diện tích khoảng 3.500.000km². Đây là biển lớn thứ tư thế giới sau biển Philippines, biển San Hô và biển Ả Rập. Vùng biển này và các quần đảo của nó là đối tượng tranh chấp và xung đột giữa nhiều quốc gia trong vùng.



QUẦN ĐẢO HOÀNG SA

Địa lý tự nhiên của quần đảo Hoàng Sa

Quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands), là một nhóm khoảng 30 đảo, bãi san hô và mỏm đá ngầm nhỏ ở Biển Đông. Quần đảo nằm cách miền Trung Việt Nam khoảng một phần ba khoảng cách đến những đảo phía bắc của Philippines; cách đảo Lý Sơn của Việt Nam khoảng 200 hải lý và cách đảo Hải Nam của Trung Quốc khoảng 230 hải lý.
Từ xưa quần đảo này đã mang tên là Bãi Cát Vàng hay Cồn Vàng. Vì có vô số hòn đảo, hòn đá, cồn đụn, bãi cạn lúc nổi lúc chìm theo với mực nước thủy triền lên xuống nên số lượng đảo tùy theo cách đếm mà kể là nhiều hay ít. Giáo sư Sơn Hồng Đức cho số lượng là 120 đảo; sách cổ Việt Nam trong những thế kỷ trước đây cho biết có 130 đảo.
Trước năm 1974, Việt Nam Cộng hòa kiểm soát một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa còn Trung Quốc kiểm soát phần còn lại. Từ năm 1974 đến nay, Trung Quốc kiểm soát toàn bộ quần đảo Hoàng Sa đồng thời tuyên bố đây là lãnh thổ của họ. Chủ quyền của quần đảo Hoàng Sa vẫn đang là chủ đề tranh luận giữa Trung Quốc và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.


Lịch sử

     Thời Quốc gia Việt Nam

  • Ngày 14 tháng 10 năm 1950: Chính phủ Pháp chính thức chuyển giao quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa cho chính phủ Quốc gia Việt Nam, do Bảo Đại đứng đầu.
  • Ngày 6 tháng 9 năm 1951: Tại Hội nghị San Francisco về Hiệp ước Hoà bình với Nhật Bản, vốn không chính thức xác định rõ các quốc gia nào có chủ quyền trên quần đảo, Thủ tướng kiêm Và Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trần Văn Hữu tuyên bố rằng cả quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa đều thuộc lãnh thổ Việt Nam, và không gặp phải kháng nghị hay bảo lưu nào từ 51 nước tham dự hội nghị. Tuyên bố này nhằm lợi dụng tất cả mọi cơ hội minh định trên diễn đàn quốc tế xác nhận chủ quyền đã có từ lâu đời trên quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa của nước Việt Nam, để dập tắt những mầm mống các tranh chấp sau này. Tại hội nghị này, đại biểu Liên Xô đã đề nghị trao hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa cho Trung Quốc, nhưng đề nghị này đã bị bác bỏ với 46 phiếu chống, 3 phiếu thuận và văn kiện của hội nghị ký ngày 8 tháng 9 năm 1951 chỉ ghi về hai quần đảo là « Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và đòi hỏi đối với hai quần đảo ».

     Thời Việt Nam Cộng hòa

  • Năm 1954: Hiệp định Genève quy định lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời (bao gồm cả trên đất liền và trên biển). Quần đảo Hoàng Sa nằm ở phía Nam vĩ tuyến 17, được giao cho chính quyền Quốc gia Việt Nam (quốc trưởng Bảo Đại đứng đầu) quản lý.
  • Ngày 26 tháng 10 năm 1956: Quốc hội Lập hiến Quốc gia Việt Nam chính thức ban hành Hiến pháp đổi tên Quốc gia Việt Nam thành Việt Nam Cộng hòa. Việt Nam Cộng hòa kế thừa Quốc gia Việt Nam quản lý quần đảo Hoàng Sa theo đúng công pháp quốc tế. Việt Nam Cộng hòa đã đảm nhiệm việc quản lý quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa theo đúng trách nhiệm mà Hiệp định Genève năm 1954 quy định. Trong thời gian này, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đã luôn khẳng định và duy trì các quyền chủ quyền của mình một cách liên tục và hoà bình đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các hoạt động nhà nước.
  • Ngày 1 tháng 6 năm 1956: Ngoại trưởng Việt Nam Cộng hoà Vũ Văn Mẫu xác nhận lại chủ quyền của Việt Nam trên cả hai quần đảo.
  • Ngày 22 tháng 8 năm 1956: Một đơn vị hải quân Việt Nam Cộng hòa cắm cờ trên quần đảo Trường Sa và dựng bia đá.
  • Năm 1956, Trung Quốc chiếm giữ toàn bộ phía Đông quần đảo Hoàng Sa bao gồm Phú Lâm và Linh Côn.
  • Ngày 4 tháng 9 năm 1958: Thủ tướng Chu Ân Lai công bố quyết định của Chính phủ Trung Quốc nới rộng lãnh hải ra 12 hải lý, có đính kèm bản đồ đường ranh giới lãnh hải tính từ lục địa và các hải đảo thuộc Trung Quốc trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa.
  • Ngày 14 tháng 9 năm 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi công hàm cho Thủ tướng Chu Ân Lai với nội dung: « Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc ». Công hàm này cũng đăng trên báo Nhân Dân ngày 22 tháng 9 cùng năm.
  • Ngày 13 tháng 7 năm 1961: Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ban hành sắc lệnh số 174 NV, trong đó ấn định: « Quần đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam. Một đơn vị hành chánh xã bao gồm trọn quần đảo này được thành lập và lấy danh hiệu là xã Định Hải trực thuộc quận Hòa Vang. Xã Định Hải đặt dưới quyền một phái viên hành chánh ».
  • Ngày 21 tháng 10 năm 1969: Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Cộng hòa ký nghị định số 709-BNV/HCĐP để « Sáp nhập xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang tỉnh Quảng Nam vào xã Hòa Long cùng quận ».
  • Ngày 19 tháng 1 năm 1974: quân đội Trung Quốc tấn công quân đồn trú Việt Nam Cộng hòa và chiếm các đảo phía tây thuộc quần đảo Hoàng Sa trong trận Hải chiến Hoàng Sa năm 1974. Từ thời điểm này Trung Quốc chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa.
  • Ngày 20 tháng 1 năm 1974: Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam (Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam) đã ra bản tuyên bố phản đối hành động này của phía Trung Quốc.
  • Ngày 14 tháng 2 năm 1974: Việt Nam Cộng hòa ra tuyên cáo xác định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
  • Năm 1975: Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa công bố một bạch thư (sách trắng) trình bày những chứng cớ lịch sử và xác định chủ quyền pháp lý của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

     Thời Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

  • Ngày 2 tháng 7 năm 1976: Việt Nam thống nhất dưới tên gọi mới Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Từ đó, với tư cách kế thừa quyền sở hữu các quần đảo từ các chính quyền trước, Nhà nước CHXHCN Việt Nam có trách nhiệm duy trì việc bảo vệ chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng liên quan trực tiếp đến hai quần đảo.
  • Ngày 12 tháng 11 năm 1977: Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam đều khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam.
  • Ngày 9 tháng 12 năm 1982: Hội đồng Bộ trưởng nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện đảo Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng.
  • Ngày 23 tháng 6 năm 1994: Quốc hội Việt Nam khoá IX, kỳ họp thứ 5 phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982.
  • Ngày 4 tháng 11 năm 2002: Tại Phnom Penh (Campuchia), Việt Nam cùng các quốc gia trong khối ASEAN và Trung Quốc đã ký kết Tuyên bố về ứng xử các bên ở Biển Đông, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc giải quyết các vấn đề trên biển và duy trì ổn định ở khu vực.
  • Ngày 21 tháng 06 năm 2012: Quốc hội Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 3 bỏ phiếu thông qua Luật Biển, gồm 7 chương, 55 điều. Ngay ở Điều 1 luật đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Tranh chấp chủ quyền

  • Hoàng Sa nằm giữa một khu vực có tiềm năng cao về hải sản và trữ lượng dầu mỏ nhưng không có dân bản địa sinh sống. Vào năm 1932, chính quyền Pháp ở Đông Dương chiếm giữ quần đảo này và Việt Nam tiếp tục nắm giữ chủ quyền cho đến năm 1974 (trừ hai đảo Phú Lâm và Linh Côn do Trung Quốc chiếm giữ từ năm 1956). Trung Quốc chiếm giữ toàn bộ Hoàng Sa từ năm 1974 sau khi dùng hải quân, lính thủy đánh bộ và không quân tấn công căn cứ quân sự của Việt Nam Cộng Hoà ở nhóm đảo phía tây trong Hải chiến Hoàng Sa 1974.
  • Tháng 1 năm 1982, Bộ Ngoại giao Việt Nam đã công bố sách trắng Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa: lãnh thổ Việt Nam, trong đó nêu nhiều lý lẽ chứng minh Hoàng Sa là của Việt Nam. Ngoài ra cũng có rất nhiều bằng chứng nghiên cứu độc lập khác cho thấy Hoàng Sa là của Việt Nam. 
  • Vào tháng 7/2012, báo chí Việt Nam đưa ra bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với các quần đảo ở Biển Đông đó là tấm bản đồ của Nhà Thanh xuất bản năm 1904 trong đó điểm cực nam của Trung Hoa chỉ dừng lại ở đảo Hải Nam mà không hề có tây sa hay Nam sa mà Trung Quốc đang cố gắng chiếm giữ.

Vai trò của Hoàng Sa

Hiện nay, Biển Đông có vai trò quan trọng về phương diện kinh tế và quân sự đối với Trung Quốc, các nước Bắc Á và các quốc gia trong vùng Đông Nam Á, bao gồm Brunei, Campuchia, Đông Timor, Indonesia, Lào (không có lãnh hải), Malaysia, Myanma, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam. Biển Đông còn là thủy đạo nối liền Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương qua Eo biển Malacca. Mọi di chuyển bằng hàng hải giữa các quốc gia thuộc vòng đai Thái Bình Dương với vùng Đông Nam Á, Ấn Độ, Tây Á, Địa Trung Hải và xuống châu Úc đều thường xuyên đi qua vùng biển này. Hoàng Sa là một quần đảo nằm trên thủy lộ đó. Những tranh chấp căng thẳng đã và đang xảy ra tại Hoàng Sa cho thấy việc kiểm soát Hoàng Sa vô cùng quan trọng trong việc nắm quyền kiểm soát thuỷ đạo quan trọng của Đông Nam Á và của thế giới. Việc kiểm soát Hoàng Sa là lợi thế đối với việc giành quyền kiểm soát biển Đông và các nguồn tài nguyên tại đây.

Đối với Việt Nam

Ngư nghiệp: Trước đây ngư dân và tàu bè Việt Nam vẫn tự do đánh cá và đi lại và trong vùng biển chung quanh quần đảo Hoàng Sa. Nhưng kể từ khi Trung Quốc tấn công lực lượng đồn trú của hải quân Việt Nam Cộng Hòa và chiếm quần đảo này ngày 19 tháng 01 năm 1974, thì các hoạt động mang tính dân sự của tàu thuyền Việt Nam trong vùng biển Hoàng Sa có thể bị lực lượng hải quân và cảnh sát biển Trung Quốc đe dọa. Việc này đã dẫn đến một số sự kiện mà trước đây chưa hề xảy ra khi Việt Nam còn kiểm soát quần đảo Hoàng Sa. Điển hình là :
  • Ngày 18 đến 20 tháng 12 năm 2004, hải quân Trung Quốc dùng tàu tuần dương tông vào các tàu đánh cá Việt Nam khiến cho 23 ngư dân Đà Nẵng và Quảng Ngãi chết, 6 người bị thương, đồng thời bắt giữ 9 tàu đánh cá và 80 ngư dân khác.
  • Ngày 27 tháng 6 năm 2006, 18 chiếc tàu đánh cá của Việt Nam neo đậu tại phía bắc quần đảo Hoàng Sa để tránh bão, thì bị một chiếc tàu lạ tấn công, cướp bóc, và xua đuổi không cho họ ở lại tránh bão.
  • Ngày 27 tháng 6 năm 2007, một tàu đánh cá Việt Nam bị Trung Quốc tấn công làm 6 người bị thương, khi họ vào tránh gió ở đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa.
  • Sáng 27 tháng 9 năm 2009, 17 tàu của ngư dân Việt Nam giương cờ trắng chạy vào đảo Hữu Nhật tránh bão, đã bị lính Trung Quốc nổ súng xua đuổi, rồi bị cướp, đánh đòn, tra tấn.

Đối với Trung Quốc

An ninh quốc gia: Theo tác giả Sarabjeet Singh Parma, thuộc Viện nghiên cứu Quốc phòng Ấn Độ, thành phố Tam Sa trên đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa có thể là căn cứ để Trung Quốc thực hiện chiến lược chiếm dần từng nhóm đảo, sau đó là cả Biển Đông. Tại đảo Phú Lâm thuộc quần đảo Hoàng Sa, Trung Quốc đã xây dựng một sân bay dài gần 3km có khả năng tiếp nhận mọi loại máy bay quân sự. Từ đây, các máy bay chiến đấu hiện đại của Trung Quốc như JH-7 và SU-30 với tầm bay khoảng 3.000km có thể bao phủ toàn bộ biển Đông. Hiện nay, nhà nước Trung Quốc đang tích cực đầu tư cơ sở hạ tầng dân sự cũng như quân sự tại Hoàng Sa với tổng ngân sách dự kiến khoảng 1,6 tỷ USD.


QUẦN ĐẢO TRƯỜNG SA

Quần đảo Trường Sa (Spratly Islands) là một tập hợp thực thể địa lí được bao quanh bởi những vùng đánh cá trù phú và có tiềm năng dầu mỏ và khí đốt thuộc biển Đông. Tuy nhiên, quần đảo này đang trong tình trạng tranh chấp ở các mức độ khác nhau giữa sáu bên là Brunei, Đài Loan, Malaysia, Philippines, Trung Quốc và Việt Nam. Ở cấp độ quốc tế, phạm vi của khái niệm quần đảo Trường Sa vẫn chưa được xác định rõ và đang trong vòng tranh cãi. Dù rằng Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển đã ra đời nhằm xác định các vấn đề về ranh giới trên biển nhưng bản thân Công ước không có điều khoản nào quy định cách giải quyết các tranh chấp về chủ quyền đối với đảo.


Tổ chức hành chính tại Trường Sa

     Việt Nam
  • Ngày 22 tháng 10 năm 1956, tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm đã ra sắc lệnh về việc thay đổi địa giới các tỉnh và tỉnh lị tại Nam Việt, theo đó thì quần đảo Trường Sa quy thuộc tỉnh Phước Tuy.
  • Đến ngày 6 tháng 9 năm 1973, bộ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa đã đưa quần đảo Trường Sa vào phạm vi hành chính của xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.
  • Sau Chiến tranh Việt Nam, đến ngày 9 tháng 12 năm 1982, chính quyền Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thành lập huyện Trường Sa trên cơ sở toàn bộ khu vực quần đảo Trường Sa trước đây thuộc huyện Long Đất, tỉnh Đồng Nai.
  • Tuy nhiên, ngày 28 tháng 12 năm 1982, chính quyền Việt Nam đã chuyển huyện Trường Sa từ tỉnh Đồng Nai sang tỉnh Phú Khánh.
  • Ngày 1 tháng 7 năm 1989, tỉnh Phú Khánh được tách ra thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, huyện Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa.
  • Ngày 11 tháng 4 năm 2007, chính phủ Việt Nam thành lập thị trấn Trường Sa và hai xã Song Tử Tây và Sinh Tồn thuộc huyện Trường Sa. Các thị trấn và xã này được thành lập trên cơ sở các hòn đảo cùng tên và các đảo khác phụ cận.
     Trung Quốc
  • Từ năm 1959, Trung Quốc đặt quần đảo Nam Sa (bao hàm quần đảo Trường Sa) cùng với quần đảo Tây Sa (tức quần đảo Hoàng Sa) và quần đảo Trung Sa (gồm bãi Macclesfield và một số thực thể địa lí thuộc biển Đông) thành một cấp gọi là Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa dưới quyền quản lý thuộc tỉnh Hải Nam.
  • Tháng 11 năm 2007, từng có tin rằng Trung Quốc đã thành lập đô thị cấp huyện Tam Sa để quản lí ba quần đảo trên biển Đông.
  • Ngày 21 tháng 6 năm 2012, Quốc vụ viện Trung Quốc chính thức phê chuẩn thành lập thành phố cấp địa khu Tam Sa để thay thế Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa.
     Philippines
  • Năm 1978, Philippines thành lập đô thị tự trị Kalayaan thuộc tỉnh Palawan trên cơ sở Nhóm đảo Kalayaan. Hiện thời đơn vị hành chính này chỉ có một barangay là Pag-asa (tức đảo Thị Tứ), nằm cách đảo Palawan 285 hải lí về phía tây.

Phát triển kinh tế ở quần đảo Trường Sa

Quần đảo Trường Sa vốn không có đất trồng trọt và không có dân bản địa sinh sống. Nghiên cứu của một số học giả đều chỉ ra rằng các đảo thuộc Trường Sa thiếu khả năng duy trì đời sống kinh tế riêng đầy đủ bởi vì chúng quá nhỏ, khô cằn và có rất ít tài nguyên trên đảo.
Tuy trên các đảo chỉ có một vài tài nguyên (ví dụ phân chim) nhưng nguồn lợi thiên nhiên của vùng biển quần đảo Trường Sa thì lại rất có giá trị, ví dụ hải sản và tiềm năng dầu mỏ - khí đốt. Vào năm 1980, dân chúng trong vùng đánh bắt được 2,5 triệu tấn hải sản từ khu vực quần đảo Trường Sa. Quần đảo cũng có tiềm năng lớn về dầu khí do nằm gần khu vực lòng chảo trầm tích. Hiện địa chất vùng biển này vẫn chưa được khảo sát nhiều nên chưa có các số liệu đánh giá đáng tin cậy về tiềm năng dầu khí và khoáng sản khác.
  • Tháng 6 năm 1976, Philippines khoan được dầu mỏ tại khu phức hợp Nido ở ngoài khơi đảo Palawan.Nằm tại khu vực khí hậu nhiệt đới và có hệ sinh thái đa dạng, quần đảo Trường Sa có tiềm năng để thu hút khách du lịch.
  • Tháng 6 năm 2011, Tổng cục Du lịch của Việt Nam mở hội thảo và công bố đề án phát triển du lịch hướng về biển đảo, trong đó đề cập đến dự định mở tuyến du lịch ra Trường Sa. 
  • Tháng 4 năm 2012, Philippines tuyên bố kế hoạch phát triển đảo Thị Tứ bằng cách sửa chữa lại đường băng trên đảo và biến nơi đây thành một khu du lịch.
  • Tháng 9 năm 2012, Tân Hoa xã của Trung Quốc đưa tin về kế hoạch phát triển du lịch du thuyền giai đoạn 2012-2022 của thành phố Tam Á (tỉnh Hải Nam) đến quần đảo Trường Sa. 
  • Tuy vậy, các nước trên đều đi sau Malaysia bởi vào đầu thập niên 1990, nước này không những đã hoàn thành việc xây đảo nhân tạo tại đá Hoa Lau mà còn mở cửa một khu nghỉ mát đầy đủ tiện nghi dành cho du khách, đặc biệt là những người yêu thích lặn biển.

Cơ sở hạ tầng ở quần đảo Trường Sa

     Giao thông vận tải

     Theo CIA, tại quần đảo Trường Sa có 4 đường băng được xây dựng.
  • Đảo Thị Tứ: năm 1975, Philippines xây dựng một đường băng trên đảo Thị Tứ. Đường băng dài 1.260 m nhưng có vài chỗ đã bị xói mòn, xuống cấp nên chỉ có khả năng tiếp nhận máy bay C-130 Hercules vào những lúc điều kiện thời tiết tốt; vào các ngày mưa, đường băng này chỉ đón được các máy bay cỡ nhỏ hơn. Philippines đã có kế hoạch sửa chữa lại đường băng này.
  • Đảo Ba Bình: năm 2006, chính quyền Đài Loan giao cho Bộ Quốc phòng nhiệm vụ xây dựng đường băng trên đảo Ba Bình. Tháng 1 năm 2008, xuất hiện nguồn tin thông báo rằng Đài Loan đã hoàn tất công việc xây dựng. Đường băng có bề mặt lát xi măng với chiều dài khoảng 1.200m (lúc đầu ước tính là 1.150m), chiều rộng 30 m cùng với lề vật liệu và khu vực cấm xây dựng rộng 21m ở hai bên đường băng, đáp ứng nhu cầu đón máy bay C-130 Hercules.
  • Đá Hoa Lau: trong quá khứ đá Hoa Lau thực chất chỉ có một phần nổi rất nhỏ. Sau khi chiếm đá này vào đầu thập niên 1980, quân đội Malaysia đã kiến tạo một hòn đảo nhân tạo và cho xây dựng một đường băng dài 1.067m trên đó.
  • Đảo Trường Sa: trên đảo này có một đường băng do Việt Nam xây dựng. Theo một nguồn tin, đường băng này đã được làm mới với tiêu chuẩn sân bay cấp ba, cho phép các loại máy bay cánh bằng chở khách hạ/cất cánh.

     Viễn thông

  • Năm 2005, công ty Smart Communications của Philippines đã cử người ra đảo Thị Tứ để xây một tháp thu phát sóng di động GSM.
  • Từ năm 2007, Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel của Việt Nam đã cho khảo sát và lắp đặt các trạm thu phát sóng thông tin di động tại một số nơi thuộc Trường Sa.
  • Từ tháng 5 năm 2010, Công ty Tập đoàn Thông tin Di động Trung Quốc China Mobile và hải quân Trung Quốc đã bắt đầu phủ sóng thông tin di động trên các rạn đá ngầm do nước này kiểm soát, bao phủ tổng diện tích là 280km².
  • Đầu tháng 2 năm 2013, Thông tấn xã Trung ương của Đài Loan thông báo công ty Trung Hoa Điện Tín Chunghwa Telecom đã hoàn tất lắp đặt hệ thống viễn thông tại đảo Ba Bình. 

Danh sách thực thể bị chiếm đóng ở quần đảo Trường Sa
  1. Việt Nam kiểm soát được 21 thực thể địa lý (7 đảo san hô và cồn cùng 14 ám tiêu san hô)
  2. Philippines 10 (7 đảo san hô và cồn cùng 3 ám tiêu san hô)
  3. Trung Quốc 7 ám tiêu san hô
  4. Malaysia 7 ám tiêu san hô
  5. Đài Loan 1 đảo san hô và 1 ám tiêu san hô.



mardi 4 février 2014

KHÁM PHÁ : 10 cách giúp chủ xe hơi tiết kiệm nhiên liệu tối đa


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Hầu hết người Pháp xử dụng xe hơi trung bình 15.000 km mỗi năm. Vì vậy, nếu bạn bớt tiêu thụ 1 lít cho mỗi 100 km, giúp bạn tiết kiệm 150 lít hoặc 250 €/năm (khoảng 350 dollars/năm).
  • Sử dụng máy điều hòa không khí trong xe hơi tiêu thụ từ 5 đến 20% nhiên liệu tùy theo vào kiểu xe.
  • Cũng như nổ máy xe hơi để làm ấm trong mùa đông trước khi lấy xe, 5 phút mỗi ngày trong khoảng thời gian 3 tháng, tiêu thụ một bình xăng đầy mà không di chuyển một cây số nào.
  • Tiêu thụ xăng khi dừng xe: 10 phút mỗi ngày trong vòng 2 tháng = 1 bình xăng đầy. Khi phải chờ đợi lâu như dừng xe khi đèn đỏ, khi trường học ra, đi mua bánh mì, không nên để xe hơi nỗ máy khi không cần thiết.
Trong thời buổi xăng tăng giá như hiện nay, việc làm sao để tiết kiệm xăng để giảm bớt chi phí cho túi tiền của mình đã làm các chủ xe hơi hết sức quan tâm.


Dưới đây là lời khuyên để giúp trong việc kiểm soát mức tiêu thụ của chiếc xe.
  1. Lái ở tốc độ của chiếc xe của mình vừa phải
    Lái xe nên chú ý tránh lái tốc độ cao trên những con đường gồ ghề, gập ghềnh.Trên đường cao tốc, mức tiêu thụ nhiên liệu khi xe đi ở tốc độ dưới 100 km/h và trên 100 km/h là rất khác nhau, có thể chênh nhau 10% hoặc hơn tùy từng loại xe.
    Giảm tốc độ của bạn là 20 km/h có thể giúp bạn tiết kiệm đến 20% nhiên liệu. Nói cách khác là nếu bạn tiêu thụ 8 L/100 km đi với vận tốc 130 km/h, bạn sẽ tiêu thụ chỉ 6,4 L/100 đi với vận tốc 110 km/h. Vì vậy bạn sẽ tiết kiệm được hơn 1,3 lít nhiên liệu trên một đoạn đường khoảng 100 km.

    Thay vì việc liên tục đứng khựng và tăng tốc đột ngột đặc biệt ở những đoạn đèn giao thông, người lái nên ước lượng khoảng cách với đèn đỏ hay trạm thu phí và lưu lượng người tham gia giao thông đằng trước để xe giữ được vận tốc đều.

  2. Tắt động cơ khi không sử dụng
    Khi chiếc xe dừng lại hoặc tạm ngừng hoạt động hơi lâu thì nên tắt máy xe để nhằm giảm hao phí nhiên liệu vô ích. Nên tránh việc hâm nóng động cơ quá lâu và tránh việc để động cơ chạy một cách nhàn rỗi. Và cho những người không muốn tự tắt máy xe của họ tại mỗi điểm dừng hơi lâu, hãy chọn một mẫu xe được trang bị với hệ thống <Stop & Start>.

  3. Lốp phải luôn căng hơi
    Giữ cho lốp xe trong tình trạng đủ hơi là một trong những cách tốt nhất để tiết kiệm nhiên liệu. Đồng thời đó là cách để đảm bảo an toàn tính mạng cho người sử dụng xe bởi lốp xe non. Nếu đang đi trên đường lốp bị xì hơi đó là điều hết sức nguy hiểm.

    Bơm cho lốp xe đạt đến ngưỡng tối đa theo đề nghị của nhà sản xuất. Trong thời tiết lạnh giá, hãy kiểm tra áp suất của lốp để xác định con số chính xác. Đừng ngại tốn kém trong việc đầu tư một đồng hồ đo loại điện tử có van xả. Cứ 0,14 kg/cm2 (1 Bar =1,019716 kg/cm2) áp suất lốp bị giảm đi so với mức tiêu chuẩn có thể sẽ khiến lượng tiêu thụ nhiên liệu của xe tăng lên 1%.

    Những người lái xe nên kiểm tra ít nhất một tháng một lần. Nếu có hiện tượng yếu hơi thì phải bơm ngay không nên chần chừ.Trước khi cho xe lăn bánh trên đường, cần sử dụng máy đo áp suất kỹ thuật số để kiểm tra độ căng. Lốp đầy đủ hơi sẽ vừa giúp cho xe chạy êm ái lại vừa vận hành tối ưu.

  4. Nhấn ga từ từ
    Nhiều người vẫn còn có thói quen đạp mạnh chân ga nhằm tăng tốc đột ngột cho chiếc xe đồng thời trước khi đỗ xe vẫn giữ ở tốc độ cao rồi phanh đột ngột. Điều này có thể mang lại cảm giác mạnh cho người lái, tuy nhiên nó cũng chính là thủ phạm móc khỏi túi tiền của bạn một khoản nho nhỏ mà khi cộng dồn lại.

    Do đó, cố gắng nhấn ga từ từ khi xuất phát và trước khi dừng xe, cần duy trì khoảng cách an toàn giữa các phương tiện và phán đoán điều kiện giao thông để kịp tăng ga và nhấn phanh đều đặn. Thật vậy, ngay sau khi bàn chân của bạn không chạm vào bàn đạp ga, cung cấp nhiên liệu bị cắt.

  5. Hạn chế sử dụng máy điều hoà
    Nếu như thời tiết dễ chịu, người sử dụng nên tắt máy điều hòa. Việc này sẽ gúp tiết kiệm được năng lượng cho xe. Máy điều hoà không khí có thể tiêu tốn 20% nhiên liệu. Vừa đi xe ở tốc độ cao vừa để tay trên cánh cửa đón gió sẽ mang lại cảm giác phóng khoáng tuyệt vời, tuy nhiên lực cản của gió sẽ không có lợi cho việc sử dụng thụ nhiên liệu. Với tốc độ 130 km/h, nếu có nhiều cửa sổ đang mở, tiêu thụ sẽ tăng khoảng 5%.

    Nếu bạn lái xe từ từ trong thị trấn, để cửa sổ mở sẽ không tiêu tốn đáng kể nhiên liệu vì khí động lực (aérodynamisme) ảnh hưởng rất ít ở tốc độ thấp.

  6. Sử dụng chế độ <cruise control> (régulateur de vitesse)

    Đây là một hệ thống kiểm soát vận tốc tự động. Ví dụ, khi cài đặt ở tốc độ 110 km/h trên đường cao tốc, máy tính sẽ tính toán và điều chỉnh van tiết lưu để duy trì tốc độ ấy, giúp tiết kiệm nhiên liệu cho xe. Hiệu quả hơn nữa là hệ thống <Adaptive Cruise>, sử dụng ra-đa để giữ khoảng cách với xe đằng sau và đằng trước.

  7. Xây dựng lịch trình trước
    Trước khi bắt đầu đi đâu, lái xe nên tính toán trước lịch trình sẽ đi, thời gian đi để tránh tình trạng lòng vòng, nhầm đường hay lạc đường gây ra nhiều điều phiền toái hoặc tốn nhiên liệu.

  8. Không mang quá nhiều đồ đạc
    Nếu không cần thiết trong hành trình không nên mang nhiều đồ đạc, chỉ mang theo những thứ cần thiết. Những thứ không cần thiết không nên đưa lên xe. Bởi vì, cứ 50 kg hành lý sẽ tiêu tốn thêm 2% nhiên liệu và gây lãng phí nhiên liệu một cách không cần thiết.

  9. Làm sạch bộ lọc không khí thường xuyên
    Tình trạng bộ lọc không khí trong xe bị nghẽn sẽ gây tốn nhiên liệu. Theo tính toán của chuyên gia, nếu bộ lọc bị tắc làm tốn 10% nhiên liệu. Bộ lọc khí rất dễ tháo rời. Hãy vệ sinh và phơi dưới ánh nắng mặt trời, nếu không thấy ánh sáng xuyên qua nó thì có nghĩa là cần phải thay bộ lọc mới. Nếu bộ lọc bị nghẽn nhiều lần nên thay bộ lọc mới để đảm bảo cho quá trình lọc không khí được thông suốt và tiết kiệm nhiên liệu.

  10. Đổ xăng lúc nào?
    Mua xăng vào sáng sớm hoặc chiều tối, đây là thời điểm xăng đặc nhất. Không nên đổ quá đầy làm cho xăng bị rò ra ngoài gây nguy hiểm.