mercredi 9 novembre 2016

LỊCH SỬ : Donald Trump


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Donald Trump (70 tuổi)
Đắc cử Tổng thống Hoa Kỳ thứ 45 kể từ ngày 20/01/2017


Donald Trump là ai?

Donald John Trump sinh ngày 14/6/1946 là một tỷ phú bất động sản và là một ngôi sao truyền hình thực tế trước khi trở thành ứng cử viên Tổng thống bên Đảng Cộng hòa.

Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Trump Organization, tổ chức điều hành nhiều sân golf và khu nghỉ mát sang trọng ở Mỹ và trên thế giới, xuất thân từ khu Queens, thành phố New York.

The Trump Organization sở hữu, điều hành, phát triển và đầu tư vào bất động sản trên khắp thế giới như Trump International Hotel & Tower tại Chicago, Illinois

Sáng lập viên Trump Entertainment Resorts là con thứ tư trong năm người con của ông Fred và bà Mary Trump. Thân phụ ông là một nhà xây dựng và phát triển bất động sản chuyên xây và điều hành các khu chung cư của tầng lớp trung lưu của New York.

Cuộc hôn nhân đầu tiên của ông vào năm 1977 với bà Ivana Trump, một người mẫu thời trang New York, kết thúc vào đầu thập niên 90.

Ivana Marie Trump

Ông cưới vợ nhì, bà Marla Trump, vào năm 1993 nhưng đến năm 1997 thì đệ đơn ly hôn nữ minh tinh màn bạc này.

Marla Ann Maples 2007

Ông kết hôn với người vợ hiện tại, bà Melania Trump, một người mẫu gốc Slovania, cách đây 11 năm. Trong số các khách mời danh tiếng tại đám cưới này có vợ chồng cựu Tổng thống Bill Clinton.

Vợ của Trump, Melania, năm 2011


Trai út nhà Trump ngái ngủ trong lễ ăn mừng của cha

Qua ba đời vợ, ông có tổng cộng 5 người con, lớn nhất sinh năm 1977 và nhỏ nhất sinh năm 2006.

Con gái cả của Trump, Ivanka, giữ chức phó chủ tịch của The Trump Organization

Thuở nhỏ, ông Trump là một đứa trẻ năng động và quyết tâm cao. Ông có thành tích về mặt học vấn lẫn công tác xã hội. Khi tốt nghiệp trung học vào năm 1964, ông là một ngôi sao thể thao của trường lớp và là một học sinh ‘cốt cán’. Sau đó, ông vào Đại học Fordham và hai năm sau chuyển lên Trường Tài chính thuộc Đại học Pennsylvania. Năm 1968, ông tốt nghiệp với văn bằng kinh tế.

Trong thời gian đi học, ông từng bước theo cha vào nghề phát triển bất động sản, làm việc cho cha khi nghỉ hè và sau khi tốt nghiệp đại học, ông gia nhập công ty Elizabeth Trump & Son của cha mình.

Trump Tower, tại 725 Fifth Avenue, ở Midtown Manhattan

Đến năm 1971, ông được giao quyền điều hành và đổi tên công ty thành "The Trump Organization". Ông cũng dời chỗ ở tới khu Manhattan, nơi ông bắt đầu kết giao với những người có ảnh hưởng. Nhìn thấy những cơ hội kinh tế béo bở của thành phố New York, ông đã sớm bắt tay vào các dự án xây dựng lớn ở Manhattan, mở đường cho các nguồn lợi nhuận khổng lồ, vận dụng các thiết kế kiến trúc bắt mắt, và gây chú ý công luận.

Thời Chiến tranh Việt Nam, ông Trump không bị gọi quân dịch vì lý do học tập và sức khỏe.

Khách sạn Trump Las Vegas

Trong thập niên 80, ông thu mua và xây dựng nhiều công trình ở thành phố New York, trong đó có Tháp Trump (1983), Trump Plaza và nhiều sòng bạc ở Atlantic City, New Jersey.

Năm 1996, ông thâu tóm và trở thành giám đốc sản xuất của nhiều cuộc thi sắc đẹp danh tiếng như Hoa Hậu Hoàn Vũ, Hoa Hậu Mỹ, Hoa Hậu Mỹ tuổi teen.

Tháng 10 năm 1999, Trump từng loan báo thành lập một ủy ban thăm dò để thông báo quyết định có nên tìm kiếm sự đề cử để tranh chức Tổng thống năm 2000, nhưng rút lui sau kết quả không như ý tại cuộc bầu cử sơ bộ bang California.

Năm 2001, ông Trump khánh thành Trump World Tower, tòa cao ốc đối diện trụ sở Liên Hiệp Quốc.

Từ đầu năm 2004, chương trình truyền hình thực tế ‘The Apprentice’ do Trump là người điều khiển dẫn dắt bắt đầu lên sóng NBC.

Năm 2005, ông mở trường thu lợi nhuận mang tên Đại học Trump với các lớp giảng dạy về địa ốc, thu mua và quản lý tài sản. Tuy nhiên, kể từ khi khai trương, trường này đã vướng vào những tai tiếng và tranh cãi với nhiều vụ kiện tụng tố cáo ông Trump gian lận, quảng cáo dối và vi phạm hợp đồng.

Ngôi sao của Trump trên Đại lộ Danh vọng Hollywood

Ngày 16/1/2007, tên ông được khắc tên lên ngôi sao trên con đường của những người nổi tiếng Hollywood Walk of Fame.

Cuối năm 2011, Donald Trump lọt vào danh sách 10 người đàn ông được dân Mỹ ngưỡng mộ nhất, xếp thứ 7, theo thăm dò của USA Today và Gallup. Đứng đầu là Tổng thống Barack Obama.

Tháng 3 năm 2016, cùng với 13 người khác, ông Trump được xếp hạng 324 trong danh sách những tỷ phú của thế giới với tài sản trị giá 4.5 tỷ đôla.

Tháng 6 năm ngoái, ông tuyên bố ứng cử Tổng thống 2016 với chiến dịch tranh cử dựa trên nền tảng chủ nghĩa đại chúng, nhận được sự ủng hộ từ những người bất mãn vì việc làm Mỹ bị xuất khẩu ra các nước có giá nhân công rẻ, những người phản đối chính sách du nhập di dân của Mỹ và bất bình với đảng Dân chủ.

Trump tại Manchester, New Hampshire, ngày 8 tháng 2 năm 2016

Logo và khẩu hiệu của chiến dịch

Ông Trump nhận đề cử của đảng Cộng hòa làm ứng viên Tổng thống vào ngày 21/7 tại Đại hội Toàn quốc Cộng hòa ở Cleveland. Trong bài diễn văn dài hơn 1 tiếng đồng hồ tại đó, ông Trump đề ra những việc sẽ giải quyết nếu đắc cử Tổng thống trong đó có vấn đề kinh tế, di dân, thương mại, chống khủng bố-bạo lực. Ông cũng cam kết sẽ thương thảo lại các thỏa thuận thương mại quốc tế, bãi bỏ chương trình hỗ trợ y tế cho người thu nhập thấp Obamacare do Tổng thống Obama đề xướng, bảo vệ quyền sở hữu súng, và tái thiết quân đội.

Bản đồ bầu cử đỏ rực thể hiện chiến thắng áp đảo của ông Trump - Đồ họa: TTO

Ông là nhân vật gây chú ý và gây tranh cãi không chỉ bằng những câu nói ‘đụng chạm’ chính giới, những lời phát biểu bị lên án là kỳ thị người Hồi giáo, khinh miệt di dân, xúc phạm phụ nữ, mà còn qua công việc kinh doanh của ông với những mối làm ăn bị gãy đổ, nhiều lần bị kiện tụng, nhiều lần khai phá sản mà qua đó có thể được lợi về thuế, từ chối công khai hồ sơ thuế cá nhân, và hoạt động tài chính của quỹ từ thiện Donald Trump.

Ông bị một số đảng viên cao cấp của Cộng hòa quay lưng khi đoạn ghi âm ông đùa cợt nhục mạ phụ nữ vào năm 2005 được công khai hôm 7/10/2016 dù ông đã chính thức lên tiếng xin lỗi. Trong số những người phản đối từ nội bộ đảng Cộng hòa kêu gọi ông rút lui khỏi cuộc đua Tổng thống có cựu Ngoại trưởng Condoleezza Rice.

Xu hướng đảng phái chính trị của nhân vật trực ngôn Donald Trump biến chuyển rất nhiều lần. Trước 1987, ông thuộc đảng Dân chủ, nhưng sau nhiều lần thay đổi, cuối cùng ông trở về đảng Cộng hòa.


Lý do giúp Trump chiến thắng

Nhiều người Mỹ đã sốc trước những gì diễn ra tối 8/11/2016. Chiến thắng của Donald Trump đi ngược lại dự đoán trước đó của các nhà thăm dò cũng như giới phân tích.

Donald Trump sẽ là tổng thống đầu tiên bước vào Nhà Trắng mà không có bất kỳ kinh nghiệm chính trị, ngoại giao hay quân sự nào cả. Và chắc chắn cả thế giới sẽ bối rối với Tổng thống Donald Trump.

Chuyện gì đã xảy ra?

Các thăm dò sai lầm

Đến sáng 8/11, Reuters/Ipsos vẫn dự đoán khả năng thắng của bà Clinton là 90%, Upshot của New York Times từ đầu mùa đến sát giờ bầu cử luôn để tỉ lệ của bà Clinton cao hơn Donald Trump, có lúc lên đến 92%-8%. Trước lúc bầu cử, tỉ lệ này là 84%-12% nghiêng về bà Clinton.

Donald Trump đã bất ngờ giành chiến thắng trong cuộc bầu cử ngày 8/11.  Ảnh: Reuters

Sai lầm lớn nhất có lẽ vì các cử tri hiện nay là thế hệ mới hoàn toàn. Cách thăm dò truyền thống bằng gọi điện thoại cố định của các hãng đã không còn chính xác nữa. Lối thăm dò này bỏ qua hoàn toàn những người trẻ mà ngày nay họ sống phần lớn trên mạng xã hội hay gắn chặt đời sống của mình quanh chiếc smartphone.

Đầu năm nay, cách thăm dò truyền thống cũng đã thất bại thảm hại với Brexit cũng như thăm dò về trưng cầu dân ý cho độc lập của Scotland.


Các nhóm cử tri 'giấu mặt' của Trump

Giới phân tích nói nhiều về các nhóm cử tri Trump “giấu mặt” hoặc là “số đông im lặng”. Biểu hiện rõ nhất có lẽ là việc nhiều cử tri của Trump ngại không trả lời mình ủng hộ cho ứng viên nhiều bê bối như vậy.

Trump và những người ủng hộ trong buổi vận động tranh cử tại Muscatine, Iowa tháng 1 năm 2016. Nhiều người cầm bảng ghi dòng chữ "Nhóm đa số trầm tĩnh ủng hộ Trump".

Tại các điểm bỏ phiếu ở các bang tranh chấp, nhiều cử tri bỏ phiếu cho Trump đã lắc đầu từ chối khi hỏi bỏ phiếu cho ai.


Nước Mỹ cần sự thay đổi

Nước Mỹ cần thay đổi và các cử tri chán ghét với cách Washington bế tắc trong nhiều năm nay. Họ cần một thay đổi đột phá và cảm thấy một người “bên ngoài” với lối ăn nói bạt mạng, khác thường như Trump có thể mang lại sự thay đổi. Đó là cú đòn mạnh đối với giới thượng tầng ở nước Mỹ.


Phân biệt sắc tộc 

Nhóm cử tri đông nhất của Donald Trump là nhóm cử tri da trắng và có học vấn thấp ở các vùng nông thôn. Đây là nhóm bị ảnh hưởng nặng nề nhất của toàn cầu hoá: những việc làm đơn giản được chuyển đến các nước đang phát triển như Trung Quốc, Pakistan, Ấn Độ... trong khi nhóm này không kịp thích nghi với nền kinh tế.

Nhiều người Mỹ đã khóc khi Clinton thất bại. Ảnh: Reuters.

Họ không thể hoà nhập lại với thế giới của những Facebook, Google, Apple mà ưu tiên thường dành cho giới trẻ, có học. Họ là lực lượng ủng hộ mạnh mẽ nhất của Trump.


Những “bất ngờ tháng 10”

Hàng loạt tiết lộ từ Wikileaks đã huỷ hoại danh tiếng của bà Clinton, đẩy thêm sự nghi ngờ của cử tri về độ trung thực cũng như uy tín của bà. Các tiết lộ này phát hiện bà nhận được chỉ dẫn từ bạn thân trong các cuộc tranh luận (gian lận), quỹ Clinton nhận tiền từ vua Morocco và đương nhiên là câu chuyện những bê bối email của bà.

Ngoài ra, cú giáng của FBI liên quan tới vụ email chỉ 10 ngày trước bầu cử cũng đã làm thay đổi cục diện cuộc chiến. Phe Trump đã có thêm sinh khí và năng lượng trong cuộc đua vào phút chót.

Cuộc đua giữa Trump và Clinton không chỉ thu hút sự chú ý của người dân cả nước Mỹ. Ở Australia, những "fan cuồng" của vị tỷ phú đang reo hò vui mừng không kém những người ủng hộ Trump trên đất Mỹ. Ảnh: Getty

Nhiều người sững sờ, không thể tin vào những gì đang diễn ra. Tại trung tâm hội nghị Javits ở New York, nơi dự kiến tổ chức tiệc ăn mừng chiến thắng của bà Clinton, một người đàn ông tên Theo buồn bãi nói: "Bạn không thể tưởng tượng được lại có nhiều sự thù ghét trên đất nước này đến vậy". Ảnh: AFP

"Giờ là lúc nước Mỹ hàn gắn những vết thương của sự chia rẽ. Tôi nói rằng đây là lúc chúng ta đến bên nhau như một dân tộc đoàn kết", Trump phát biểu trong tiếng hô vang "USA". 


Chuyển giao quyền lực

Từ giờ tới ngày tân TT nhậm chức 20/1/2017, người dân Mỹ sẽ có 2 tổng thống: người đương nhiệm và người kế nhiệm. Đó sẽ là 73 ngày chuyển giao quyền lực tưởng như dài bất tận.

Vào ngày 19/12 tới, 538 đại cử tri của nước Mỹ sẽ được tập hợp từ 50 tiểu bang và thủ đô Washington DC để bầu ra tổng thống và phó tổng thống theo nguyện vọng của người dân. Kết quả (đã biết trước) sẽ được Phó Tổng thống đương nhiệm Joe Biden “thông báo” trước Thượng viện.

Việc chuyển giao sẽ chính thức diễn ra vào trưa ngày 20/1/2017. Tuy nhiên, ông Donald Trump đã phải bắt đầu tiến hành chuẩn bị để trở thành tổng thống ngay từ lúc này.


Lịch trình bận rộn của Trump

Công việc của ông sẽ bao gồm hoàn thiện các chương trình nghị sự quan trọng cho 100 ngày làm việc đầu tiên, nhận vô số các bản báo cáo tóm tắt về chính sách và lựa chọn các thành viên chủ chốt của chính quyền sắp tới.

Việc đề cử nội các của tổng thống tân cử thường bắt đầu trong vòng vài tuần kể từ ngày bầu cử. Ví dụ, Tổng thống Barack Obama đã chính thức công bố bà Hillary Clinton làm ứng viên cho vị trí ngoại trưởng vào ngày 1/12/2008.

Những người được đề cử sẽ được Thượng viện xác nhận và tuyên thệ nhậm chức sau lễ nhậm chức của tân tổng thống.

Donald Trump vẫy tay chào khi rời điểm bầu cử sau khi bỏ phiếu bầu tổng thống tại New York, ngày 8/11. Ảnh: AFP.

Trên thực tế, quá trình chuyển giao quyền lực đã bắt đầu ngay lập tức, ngay sau khi bà Hillary Clinton gọi điện chúc mừng đối thủ.

Kẻ khóc người cười trước kết quả bầu cử tổng thống Mỹ. Ảnh: Wikimedia Commons.

Nhìn chung, điều này được thực hiện trong vài giờ sau khi các khu vực bỏ phiếu đóng cửa và hầu hết các kết quả đã rõ ràng, trừ khi có yêu cầu kiểm phiếu lại hoặc người thua cuộc tố cáo có vi phạm trong hoạt động bỏ phiếu (như việc ông Trump đã nói sẽ thực hiện nếu thua).


Obama cũng không rảnh

Theo thuật ngữ chính trị, tổng thống đương nhiệm, Barack Obama, được gọi là “vịt què” (lame duck). Ông có nhiệm vụ nhanh chóng mời người kế nhiệm của mình đến tham quan Nhà Trắng. Thông thường, cuộc dạo chơi này thân thiện đến đâu còn tùy thuộc vào sắc thái chính trị của người được bầu.

Mặc dù vậy, ông Obama cũng chưa được nhàn rỗi. Ông sẽ ở lại trong phòng Bầu dục sau ngày bầu cử và có 73 ngày để hoàn thành danh sách những việc cần làm khi còn là tổng thống.

Vị tổng thống Mỹ thứ 44 có thể sẽ cố gắng thông qua Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và hoàn thành việc đóng cửa nhà tù Vịnh Guantanamo. Thượng viện cũng sẽ đưa ra quyết định về Merrick Garland, người mà ông Obama đề cử cho Tòa án tối cao vào tháng 3.

Tổng thống Obama có 73 ngày để hoàn thành công việc trước khi chính thức rời Nhà Trắng. 
Ảnh: Getty.

Vào ngày 20/1/2017, Donald Trump, tổng thống kế tiếp của Mỹ sẽ tuyên thệ nhậm chức ở trước điện Capitol.

Ông Trump sẽ tuyên thệ nhậm chức, cam kết trung thành với Hiến pháp Mỹ đồng thời nhận lấy danh dự và trách nhiệm của một tổng thống. Tân tổng thống sẽ đọc diễn văn nhậm chức, sau đó dùng bữa trưa do quốc hội tổ chức và diễu hành trên Đại lộ Pennsylvania để tới Nhà Trắng.

Obama từng nhiệt tình chỉ trích Trump có trí tuệ và tính khí không thích hợp để kế nhiệm ông tại phòng Bầu dục. Giờ đây, ông buộc phải chào đón người kế nhiệm này trong buổi sáng ngày Nhậm chức vào đầu năm sau và nhìn ông Trump đọc lời tuyên thệ.

Trong khi các nghi lễ đang diễn ra, nhân viên tại Nhà Trắng sẽ bận rộn di chuyển đồ đạc của chính quyền Obama để chuẩn bị cư gia và văn phòng cho những người chủ mới của họ.

Sau một loạt sự kiện trang trọng, ông trùm bất động sản cuối cùng sẽ định cư trong căn nhà mới và nhận công việc mới với tư cách là tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ.

Từ giờ cho đến lúc đó, quãng thời gian hơn 2 tháng này sẽ là một khoảng trống đáng sợ với nước Mỹ. Ở Syria hay bất cứ nơi nào khác, người ta có thể lợi dụng sự bất ổn về thể chế của giai đoạn này, khi Barack Obama không có quyền điều hành hoàn toàn hợp pháp, còn Donald Trump vẫn chưa chính thức có quyền can thiệp vào công việc của chính phủ.


Bà Clinton thắng bầu cử phổ thông vẫn không thể trở thành tổng thống

Kết quả công bố cho thấy ứng viên đảng Dân chủ Mỹ Hillary Clinton nhận được nhiều phiếu bầu hơn so với đối thủ Cộng hòa Donald Trump trong ngày bầu cử 8/11, nhưng vẫn không thể trở thành tổng thống.

Bà Hillary Clinton. (Ảnh: AFP)

Theo kết quả công bố đến thời điểm hiện tại, bà Clinton giành được hơn 59,8 triệu phiếu bầu phổ thông, chiếm 47,7% số phiếu bầu, trong khi đó, ông Trump giành 59,6 triệu phiếu bầu chiếm 47,5% số phiếu.

Tuy nhiên, chiếm nhiều số phiếu bầu phổ thông hơn cũng không giúp bà Clinton chiến thắng trước ông Trump. Điều này là bởi lá phiếu của cử tri Mỹ không trực tiếp bầu ra tổng thống mà chỉ chọn ra những người đại diện (đại cử tri) ở bang mình để bầu tổng thống. Một quy tắc nghiệt ngã nữa trong các cuộc bầu cử tổng thống Mỹ đó là hầu hết các bang ở Mỹ đều áp dụng quy tắc "được ăn cả", nghĩa là một ứng viên chỉ cần giành nhiều phiếu phổ thông hơn ở một bang nào đó thì đồng nghĩa sẽ giành trọn số phiếu đại cử tri ở bang này. Nói cách khác, hàng triệu lá phiếu phổ thông bầu cho ứng viên còn lại sẽ trở nên vô nghĩa.

Thực tế là, dù bà Clinton giành nhiều phiếu phổ thông hơn ông Trump, nhưng thất bại ở các bang tranh chấp, nên số phiếu đại cử tri của bà Clinton tính đến thời điểm hiện tại là 232 phiếu, thấp hơn so với 290 phiếu của ông Trump. Như vậy, ông Trump mặc dù thua về số phiếu phổ thông nhưng vẫn đắc cử tổng thống.

Như vậy, bà Clinton trở thành ứng viên đầu tiên kể từ năm 2000 thắng bầu cử phổ thông nhưng không thể trở thành tổng thống. Năm 2000, ứng viên Dân chủ Al Gore cũng giành chiến thắng áp đảo trong bỏ phiếu phổ thông nhưng lại thua trong bỏ phiếu đại cử tri, nên cuối cùng đối thủ Cộng hòa George W. Bush đã đắc cử tổng thống. Đây cũng là một trong những cuộc bầu cử gây tranh cãi trong lịch sử Mỹ.





Tỉ phú Donald Trump đã chiến thắng trong cuộc đua vào Nhà Trắng nhờ giành nhiều hơn số phiếu đại cử tri theo quy định. Thế nhưng cuộc kiểm phiếu vẫn chưa kết thúc và tính đủ thì ông Trump được 306 phiếu đại cử tri còn bà Clinton 232 phiếu.

Theo qui định về bầu cử Tổng thống ở Mỹ, người dân tuy được đánh dấu chọn tên cụ thể ứng cử viên Tổng thống mình mong muốn nhưng thực chất chỉ là bầu gián tiếp. Phiếu của các cử tri được gọi là phiếu phổ thông.

Quyền bầu cử trực tiếp tổng thống nằm trong tay Đại cử tri đoàn (Electoral college). Cả nước Mỹ hiện có 538 đại cử tri.


Kết quả chiến thắng từng bang của hai ứng cử viên ông Trump & bà Clinton





samedi 5 novembre 2016

LỊCH SỬ : nghệ sĩ cải lương 'Út Bạch Lan'


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Sầu nữ Út Bạch Lan đã qua đời lúc 22h55 phút tối ngày 04/11/2016 
tại nhà riêng TPHCM. Hưởng thọ 81 tuổi (1935 - 2016)

Út Bạch Lan tên thật là Đặng Thị Hai là nghệ sĩ cải lương ưu tú. Sinh năm 1935 tại ấp Lộc Hoá, xã Lộc Giang, huyện Đức Hoà, tỉnh Long An. Bà được mệnh danh là giọng ca sầu nữ nổi tiếng lúc thời bấy giờ.

Bà sinh ra trong gia đình nghèo khó, sự khởi nghiệp Bà cùng danh cầm Văn Vĩ. Nhờ nhân duyên mẹ của hai người sống trong trạm gác cũ, kết nghĩa chị em hai. Văn Vĩ đánh đàn bà hát, nhờ một ông lão tốt bụng mở cho một lớp để hai người dạy đàn ca võng cổ. Một hôm cô Năm Cần Thơ tìm tới mời hai người lên đài phát thanh Pháp Á để thu bài "Trọng Thủy – Mỵ Châu" rồi được ký luôn một hợp đồng làm việc cho đài.

Nghệ sỹ Út Bạch Lan và nghệ sỹ Thành Được

Từ đó bà chính thức bước vào nghề hát, vào những của thập niên năm mươi, cặp diễn viên Út Bạch Lan – Thành Được đã làm rạng rỡ sân khấu Kim Chưởng. Bà và Thành Được đã làm nên thương hiệu của đoàn Thanh Minh Thanh Nga, sau đó kết hôn với nghệ sĩ Thành Được. Một thời gian thì cuộc tình cũng chia tay, bà phải nuôi bốn đứa con của chồng.

Nghệ sỹ Út Bạch Lan ở chùa

Là thế hệ kế tiếp của nghệ sĩ Bảy Phùng Há (má nuôi nghệ sỹ Kim Cương) bà vẫn đang tiếp tục sự nghiệp của mình. Những năm tháng còn lại của đời bà đã chọn vào cửa Phật, không phải xuống tóc quy y mà đêm gỏ mõ tụng kinh, ngày chọn sân chùa làm sân khấu, hát trích đoạn những vở tuồng về Phật để lấy tiền trùng tu, sửa chữa chùa chiền.


Vì căn bệnh ung thư gan, bà qua đời vào ngày 4 tháng 11 năm 2016 tại nhà riêng TPHCM. Út Bạch Lan được khâm liệm tại tư gia lúc 12g trưa nay, ngày 5-11, sau đó di quan đến chùa Ấn Quang, 243, Sư Vạn Hạnh, P.9, Q.10, TP.HCM. Lễ động quan lúc 7g ngày 8-11, sau đó đưa đi hỏa táng tại Bình Hưng Hòa.


Từ cô bé hát dạo

Nghệ sĩ ưu tú Út Bạch Lan tên thật là Đặng Thị Hai, sinh năm 1935, tại ấp Lộc Hóa, xã Lộc Giang, Đức Hóa, Long An. Cha mất sớm, hai mẹ con bé Út đi làm thuê làm mướn quanh khu vực Chợ Lớn Mới (chợ Bình Tây hiện giờ) sinh sống qua ngày.

Đồng cảnh ngộ với mẹ của Văn Vĩ (khi đó tên là Đinh Văn Dậm) nên hai bà kết nghĩa chị em, sống chung và cùng đi làm mướn. Cứ thế, năm này qua tháng nọ, những phận nghèo nương tựa cùng nhau.

Bị mù từ nhỏ, nhưng Văn Vĩ học đàn guitare cổ nhạc và đàn rất giỏi nên đã dạy cho bé Út ca. Nghe máy hát đĩa của hàng xóm, bé Út ca theo và học thuộc nhiều bản vọng cổ khác. Thấy có người mù đi hát dạo trong chợ, được người ta cho tiền, trong khi đó bé Út và Văn Vĩ làm mướn người ta chỉ cho mớ rau, hay đồ ăn, thức uống..., bé Út đã rủ Văn Vĩ lén mẹ đi hát dạo, hy vọng có tiền đỡ đần cho hai bà mẹ đỡ cực.

Vậy là hai anh em, Văn Vĩ 15 tuổi, bé Út 11 tuối cùng cây đàn cũ đi hát dạo từ Chợ Lớn Mới qua các phố phường Chợ Lớn Cũ, ra tới Chợ Bến Thành Saigon (Sài Gòn - Gia Định). Cuộc sống thanh bần cứ thế trôi đi…


Đến sầu nữ giọng vàng

Tiếng đồn giọng hát làm mê lòng người của cô bé hát dạo đã khiến cô Năm Cần Thơ (một trong những nghệ sĩ đầu tiên của sân khấu cải lương miền Nam cùng thời với các nghệ sĩ Phùng Há, Cô Năm Sa Đéc, Cô Ba Bến Tre, Út Trà Ôn, Ngọc Nữ, Bạch Huệ, Tư Bé…) tò mò tới nghe bé Út ca, và cũng từ đây, cuộc đời bé Út đã có một bước ngoặt mới. Từ cô bé hát rong thuở nào nơi vỉa hè góc chợ, bé Út được đứng trên sân khấu lung linh ánh đèn màu và nghệ danh Út Bạch Lan cũng có từ đây.

Giữa thập niên 50 (thế kỷ XX), Út Bạch Lan bắt đầu được báo chí và khán giả chú ý qua vở dã sử "Đồ Bàn di hận" trên sân khấu Thanh Minh. Không ngừng khổ luyện diễn xuất, trau chuốt kỹ thuật ca ngâm, sáng tạo nét mới, NS Út Bạch Lan đã để lại nhiều dấu ấn trong lòng khán giả qua các vở diễn :

  • Dưới hàng phượng vĩ, 
  • Nước mắt kẻ sang Tần, 
  • Tình cô gái Huế, 
  • Thuyền ra cửa biển, 
  • Thần nữ dâng Ngũ Linh Kỳ, 
  • Nước chảy qua cầu, 
  • Biên Thùy nổi sóng, 
  • Tình tráng sĩ, 
  • Nhớ rừng, 
  • Cung đàn trên sông lạnh, 
  • Thiên Thần trên thiết mã, 
  • Hoa Mộc Lan, 
  • Chén cơm đô thành, 
  • Đất Việt của người Việt… 

Năm 1958, NS Út Bạch Lan ký hợp đồng về hát cho đoàn Kim Chưởng với nghệ sĩ Thành Được.
Thành công nối tiếp thành công, NS Út Bạch Lan được các hãng đĩa tranh nhau mời thu thanh đĩa đơn, đĩa tuồng đa dạng từ xã hội, cổ tích, sử Việt Nam đến Trung Hoa, Tây, Nhật... với số lượng nhiều nhất so với những danh ca khác.

Vai chị Hằng (Vở "Con gái chị Hằng" - Hà Triều - Hoa Phượng) là vai vàng giúp NS Út Bạch Lan đạt tới đỉnh vinh quang khi hóa thân trong bi kịch người mẹ hết dạ thương con, do những bước đi sai lầm đã dẫn đến cái chết thảm, bỏ lại đứa con dại khờ.

Tiếp đó, trên SK Kim Chưởng, NS Út Bạch Lan có những vai xuất sắc qua các vở như Kiều Phi Yến (Nửa bản tình ca), Chiêu Trúc Lệ (Thuyền ra cửa biển)… Đặc biệt, với bài ca cổ "Hoa lan trắng" về cuộc đời của chính NS Út Bạch Lan do soạn giả Viễn Châu viết riêng cho giọng ca bi ai, não nuột của bà đã được nhiều khán giả đặc biệt yêu thích, xúc động trước nỗi niềm "Bao nhiêu mưa gió ngập trời/Hỏi ai còn nhớ một người tên Lan?".

Gần 80 tuổi đời và hơn 60 năm gắn bó cùng sân khấu, giọng ca vàng và những vai diễn để đời đã đưa NS Út Bạch Lan lên đỉnh vinh quang của nghệ thuật Cải lương với nhiều giải thưởng, danh hiệu cao quý cùng những biệt danh khán giả và báo giới đã ưu ái dành tặng: Đệ nhất đào thương, Nữ hoàng vọng cổ, Vương nữ Sương chiều, Sầu nữ Út Bạch Lan..


Cuộc đời éo le ngang trái

Nghệ sĩ Thành Được và Út Bạch Lan năm 1960 
ẢNH TƯ LIỆU CỦA NSND VIỄN CHÂU

Không biết có phải do mang tên một loài hoa mỏng manh, u buồn, hay vì giọng ca u sầu đã "vận" vào mà cuộc đời của NS Út Bạch Lan lại có nhiều nỗi éo le, buồn tủi. Khi còn đứng chung trên sân khấu Thanh Minh, NS Út Bạch Lan cùng NS Thành Được chính thức kết duyên loan phượng trong chúc phúc của bạn bè đồng nghiệp và khán giả mộ điệu.

NS Thành Được đẹp trai, có tài nên rất đào hoa, được nhiều phụ nữ theo đuổi. Vì thế, lấy nhau chưa được bao lâu, NS Út Bạch Lan đã phải nén đau đớn nuôi con riêng cho chồng để làm đẹp lòng chồng, giữ cho trong nhà yên ấm. Rồi lần thứ hai, thứ 3 nữa, người ta đã mang con tới nhà, nói là con của chồng mình, NS Út Bạch Lan đã khóc thật nhiều và lại nhận nuôi dưỡng những đứa con riêng của chồng. Hai người chia tay, NS Út Bạch Lan lại nuôi hai đứa con riêng của chồng bởi cũng không nỡ bỏ chúng khi còn nhỏ dại, mà để NS Thành Được nuôi thì lại chẳng thể yên tâm. Không có được một đứa con chung, nuôi con chồng như con mình, rồi dựng vợ gả chồng, vậy mà khi mẹ ruột quay trở về xin nhận lại con, NS Út Bạch Lan lại nhiệt tình hoàn tất thủ tục để trả con.

NS Út Bạch Lan đã biết sống nhẫn nhịn giữa cuộc đời bằng tấm lòng nhân hậu. Những nỗi đau, những bất hạnh trải qua như giúp NS Út Bạch Lan hát hay hơn và sự yêu thương của khán giả cùng niềm yêu thương và tôn kính của bao lớp nghệ sĩ trẻ đã bù đắp cho những mất mát trong hạnh phúc riêng của bà.


Niềm vui tuổi về già

Niềm vui lớn nhất ở cái tuổi về chiều của NSƯT Út Bạch Lan là thường cùng các anh chị em nghệ sĩ trong nhóm từ thiện của mình: Diệu Hiền, Tô Châu, Bảo Trân, Thanh Sử… biểu diễn văn nghệ để gây quỹ từ thiện cho chùa, hoặc giúp đỡ những gia đình có hoàn cảnh khó khăn.

Dù phải ngồi xe lăn, bà vẫn đến tập vở kịch mới cùng các con cháu để gây quỹ từ thiện. 
Ảnh:Thanh Hiệp. 

Sau những nỗi buồn của cuộc đời, bà rất tin vào đạo Phật. Không xuống tóc quy y, đêm bà đọc kinh, ngày chọn sân chùa làm sân khấu, hát những bài ca, những vở tuồng về Phật để lấy tiền trùng tu, sửa chữa chùa chiền.

Bây giờ, NSƯT Út Bạch Lan ít đứng trên sân khấu, bà vui với cuộc sống chay tịnh giản đơn và vẫn miệt mài đem lời ca tiếng hát đi làm việc phước đức cho đời và xem đó là lẽ sống của mình. Bà tâm sự:
"Có đi tận nơi, thấy được nỗi khổ của mọi người. Mới giật mình nhận ra mình có phước vô cùng. Ấy vậy mà đôi khi còn không biết hưởng, còn sinh ra lắm chuyện. Út đi nhiều, thấy nhiều nên bây giờ ai nói Út hà tiện Út chịu vì thấy xung quanh người ta còn cơ khổ quá mà mình ăn xài phung phí thì tội lắm. Hồi trẻ không biết, đua đòi nhiều, ai có gì mình phải có nấy. Bây giờ cơm ăn mỗi bữa, áo mặc mỗi ngày… Út đều thầm tạ ơn trời đất đã cho mình có may mắn hơn người."


Các vở diễn

Được khẳng định tên tuổi của mình trên sân khấu vào những năm 60 bằng vai cô lái đò trong vở Tình tráng sĩ.
  • Nửa đời hương phấn;
  • Chưa tắt lửa lòng;
  • Bên đồi trăng cũ;
  • Thuyền ra cửa biển;
  • Áo trắng nàng Mộng Trinh;
  • Nửa bản tình ca;
  • Người đẹp thành Bat Đa;...

Linh cữu NSUT Út Bạch Lan

Chiều 05/11/2016, sau lễ tẩm liệm tại nhà riêng, linh cữu giọng ca được mệnh danh là Sầu nữ của cải lương Nam bộ - nghệ sĩ ưu tú Út Bạch Lan - đã được đưa đến chùa Ấn Quang.

Linh cữu nghệ sĩ Út Bạch Lan được đưa chùa Ấn Quang trong niềm tiếc thương của đồng nghiệp và công chúng - Ảnh: DUYÊN PHAN

Người nhà tất bật lo hậu sự nghệ sĩ Út Bạch Lan - Ảnh: DUYÊN PHAN

Chiều 5-11 linh cữu của NSUT Út Bạch Lan được đưa từ nhà riêng đến chùa Ấn Quang (Q.10, TP.HCM) - Ảnh: DUYÊN PHAN

Nghệ sĩ Thanh Phú ( đứng giữa) cùng các đồng nghiệp xem lại những hình ảnh đi diễn của NSUT Út Bạch Lan - Ảnh: DUYÊN PHAN

 NSUT Giang Châu (bìa phải) cũng có mặt tại chùa Ấn Quang để tiễn đưa người đồng nghiệp.
Ảnh: DUYÊN PHAN

NSUT Diệu Hiền ngồi một góc đau buồn trước sự ra đi của người đồng nghiệp - 
Ảnh: DUYÊN PHAN

Nghệ sĩ Thành Lộc là một trong những người có mặt sớm nhất để viếng người đồng nghiệp mà anh rất kính trọng và yêu quý  - Ảnh: DUYÊN PHAN

Nghệ sĩ cải lương Thoại Mỹ lặng người trước linh cữu nghệ sĩ Út Bạch Lan - Ảnh: DUYÊN PHAN

Thoại Mỹ không cầm được nước mắt khi nhắc đến NSUT Út Bạch Lan - Ảnh: DUYÊN PHAN

Nhiều người dân đứng dưới đường tiễn biệt nghệ sĩ Út Bạch Lan - Ảnh: DUYÊN PHAN

Trong ngày 06/11/2016 rất nhiều nghệ sĩ và người dân tiếp tục đến chùa Ấn Quang (Q.10, TP.HCM) để chia buồn cùng gia đình và ở bên người nghệ sĩ mà mọi người đều yêu mến.

Một người dân lặng người trước thông tin NSUT Út Bạch Lan qua đời - Ảnh: DUYÊN PHAN

Nghệ sĩ Tô Châu nghẹn ngào khi kể những câu chuyện về NSUT Út Bạch Lan trước lúc lâm chung.
Ảnh: DUYÊN PHAN

Diễn viên Kiều Trinh khóc nghẹn trước linh cữu người cô luôn coi như người mẹ thứ hai.
Ảnh: DUYÊN PHAN

Nghệ sĩ Phương Hồng Thuỷ mặc áo tang túc trực bên lĩnh cữu người mẹ nuôi của mình.
Ảnh: DUYÊN PHAN

Nghệ sĩ cải lương trẻ Võ Minh Lâm coi NSUT Út Bạch Lan như bà ngoại của mình.
Ảnh: DUYÊN PHAN

NSUT Thanh Nguyệt cũng có mặt để chia buồn cùng gia đình NSUT Út Bạch Lan.
Ảnh: DUYÊN PHAN

Nghệ sĩ Lê Thanh, em trai nghệ sĩ Thành Được đến tiễn biệt người chị dâu đáng kính của mình. Ảnh: DUYÊN PHAN

Phu nhân nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có mặt từ sáng sớm viếng NSUT Út Bạch Lan. Ảnh: DUYÊN PHAN












vendredi 4 novembre 2016

LỊCH SỬ : Tổng thống VNCH 'Ngô Đình Diệm' (1901-1963)


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận

Ông Ngô Đình Diệm là tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa 8 năm, 7 ngày (26/10/1955 - 02/11/1963). Ngô Đình Diệm cùng cả 2 anh em trai của mình (Ngô Đình Cẩn và Ngô Đình Nhu) bị giết trong một cuộc đảo chánh năm 1963 do các tướng lãnh dưới quyền thực hiện.

Tổng thống Ngô Đình Diệm tại Washington DC tháng 8 năm 1957.
(03/01/1901 - 02/11/1963, 62 tuổi)

Gia đình

Theo các tài liệu lịch sử đã được công bố, Tổng thống Ngô Đình Diệm sinh ngày 3/1/1901 tại Huế trong một gia đình Công giáo danh vọng bậc nhất miền Trung thời đó. Thân phụ là ông Ngô Đình Khả và thân mẫu là bà Phạm Thị Thân, nguyên quán làng Đại Phong, Huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình, Trung Phần Việt Nam. Ông Ngô Đình Khả là Thượng Thư triều đình Huế kiêm Phụ Đạo Đại Thần và cũng là Cố Vấn của vua Thành Thái.


Gia đình ông bà Ngô Đình Khả có tất cả 9 người con: 6 người con trai và 3 người con gái.
- Trưởng nam là Tổng Đốc Ngô Đình Khôi đã bị Cộng sản giết năm 1945 cùng với người con trai là Ngô Đình Huân
- bà Ngô Đình Thị Giao
- Tổng Giám Mục Ngô Đình Thục
- Tổng thống Ngô Đình Diệm
- bà Ngô Đình Thị Hiệp thân mẫu Hồng Y Nguyễn Văn Thuận
- bà Ngô Đình Thị Hoàng nhạc mẫu nghị sĩ Trần Trung Dung
- Cố vấn Ngô Đình Nhu
- Cố vấn Ngô Đình Cẩn
- đại sứ Ngô Đình Luyện, người con út trong gia đình.

Ông Ngô Đình Khả còn nổi tiếng là một vị quan thanh liêm, cương trực, đức độ, một nhà ái quốc chân chính, là bạn thân của các nhà cách mạng nổi danh thời đó như cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Thành tích đáng kể nhất của ông Ngô Đình Khả là nỗ lực thành lập Trường Quốc Học tại Huế, một trường công lập đầu tiên giảng dạy theo chương trình học thuật Đông Tây tại Việt Nam. Và chính ông là vị đại thần duy nhất đã can đảm công khai chống lại thực dân Pháp phế bỏ và đầy vua Thành Thái sang Phi Châu sống lưu vong, sau đó ông đã xin rũ áo từ quan về quê làm ruộng.


Lúc thiếu thời, ông Diệm còn đuợc theo học dưới sự dạy dỗ của một vị cha tinh thần khác, cũng nổi tiếng về kiến thức quảng bác, đức độ và lòng yêu nước: Đó là Quận Công Nguyễn Hữu Bài, Thượng Thư dưới triều vua Duy Tân. Ngài là vị đại thần duy nhất chống lại việc người Pháp tham lam muốn đào ngôi mộ vua Tự Đức để lấy vàng bạc châu báu. Vì thế dân chúng miền Trung thời đó vô cùng cảm kích ngưỡng mộ nên đã có phương ngôn: "Đày vua không Khả. Đào mả không Bài".

Ngoài việc hấp thụ những đức tính cao đẹp và lòng yêu nước nồng nàn của thân phụ và nghĩa phụ, ông Diệm còn chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền giáo dục Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo. Thực vậy, nếu Nho Giáo đã hun đúc ông Diệm thành một con người thanh liêm, tiết tháo và cương trực thì nền giáo dục Thiên Chúa Giáo đã đào tạo ông Diệm thành một con người đầy lòng bác ái, vị tha và công chính.

Từ lúc còn nhỏ, ông được Nguyễn Hữu Bài - quan phụ chính trong triều dạy dỗ và coi như con đẻ, từ năm 15 tuổi ông vào học trường dòng với dự định sau này làm tu sĩ, nhưng không chịu nỗi kỷ luật khắt khe trong trường dòng, ông đã bỏ trường dòng ra xin học vào trường quốc học Huế. Từ năm 1919 ông ra Hà Nội học trường Hậu Bổ (trường hành chính) và tốt nghiệp 2 năm sau đó năm 1921.


Giai đoạn làm quan triều Nguyễn

Năm 1923, ông được bổ nhiệm làm Tri huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, rồi Tri phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị.

Năm 1929, ông được bổ nhiệm làm Tuần vũ tỉnh Bình Thuận.

 Năm 1932, ông được bổ nhiệm Thượng thư Bộ Lại trong triều đình vua Bảo Đại. Trong thời gian này ông được bầu làm Tổng thư ký Uỷ ban Cải Cách, ông đề xướng hai điều với Chính quyền bảo bộ Pháp: một là thống nhất Trung và Bắc Kỳ theo Hoà ước Giáp Thân 1884 và hai là cho Viện Nhân dân Đại biểu Trung Kỳ được quyền tự do thảo luận các vấn đề. Việc thống nhất cốt sẽ buộc Chính quyền Bảo hộ Pháp bãi bỏ khâm sứ Trung Kỳ và thống sứ Bắc Kỳ và thu về thành một viên Tổng trú sứ (résident général) ở Huế mà thôi. Việc thứ hai là để canh tân lối cai trị cũ. Vì thấy không được chấp nhận, ông từ chức ngày 12.07.1933.

Tổng thống Ngô Đình Diệm (thứ 2 từ phải sang) thời làm quan dưới triều vua Bảo Đại


Hoạt động chính trị chống Pháp: 1933 - 1945

Năm 1933, ông vào Sài Gòn cùng với Nguyễn Phan Long, Lê Văn Kim, … tổ chức phong trào của trí thức Nam và Trung Kỳ vận động chính giới Pháp tại Paris để đòi truất phế quan Toàn Quyền Đông Dương Pierre Pasquier. Việc không thành, ông bị Pasquier trục xuất khỏi Huế và chỉ định cư trú tại Quảng Bình. Tuy nhiên, sau cái chết của Pasquier năm 1934, viên toàn quyền mới Eugene René Robin đã phục hồi tước vị hàm cho ông và ông về dạy tại trường Thiên Hựu do anh trai Ngô Đình Thục làm Giám học

Thời kỳ 1934 - 1944, Ngô Đình Diệm tham gia thành lập và lãnh đạo đảng Đại Việt Phục Hưng chống Pháp với thành phần đảng viên nòng cốt là quan lại, linh mục, cảnh sát, và lính khố xanh bản xứ tại Trung Kỳ. Tháng 7 năm 1944, mật thám Pháp phá vỡ tổ chức này, Ông Ngô Đình Diệm trốn vào Sài Gòn với sự giúp đỡ của hiến binh Nhật.

Tổng giám mục Ngô Đình Thục (1897 - 1984)

Tại Sài Gòn, ông đã tham gia thành lập Uỷ Ban Kiến Quốc với mục tiêu phò tá hoàng thân Cường Để, tuy nhiên Nhật không cho Cường Để về nước để lập làm vua mà vẫn tiếp tục sử dụng Bảo Đại để lập nên một Chính quyền thân Nhật với quốc hiệu mới là Đế quốc Việt Nam. Bảo Đại đã từng mời ông làm Thủ tướng trong Chính quyền mới nhưng không thành mà thay vào đó là Trần Trọng Kim.


Trong thời kỳ Chiến tranh Đông Dương 1945 - 1954

Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Bộ Tư Lệnh Nhật ở Đông Dương tổ chức đảo chánh lật đổ nhà cầm quyền Pháp. Đại sứ Nhật Yokohama yêu cầu vua Bảo Đại tuyên cáo Việt Nam Độc Lập trong khối Đông Nam Á. Đối phó với tình hình mới, nhà vua lại mời ông Ngô Đình Diệm về làm Thủ tướng nhưng vì không muốn làm vật hy sinh, ông đã từ chối và nhà vua đã mời cụ Trần Trọng Kim lúc đó 62 tuổi thành lập nội các.

Ngày 15 tháng 8 năm 1945, khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng, Việt Minh khai thác sự đột biến hoang mang của quần chúng, đã tổ chức cướp Chính quyền trong một cuộc biểu tình ngày 18 tháng 8 năm 1945 tại Hà Nội. Sau đó, Cựu Hoàng cũng tuyên bố thoái vị. Còn ông Diệm trên đường từ Sài Gòn về Huế đã bị Việt Minh bắt tại Tuy Hoà và biệt giam tại Quảng Ngãi. Để củng cố địa vị, Hồ Chí Minh đã mời ông Diệm hợp tác với Chính phủ nhưng ông đã cương quyết từ chối. Khi bị giam tại Tuyên Quang, ông bị bệnh nặng được đưa về điều trị tại bệnh viện Saint Paul Hà Nội do áp lực của đảng phái quốc gia và Phó chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng, nhưng ông đã được ông Nhu lúc đó đang làm việc tại Thư Viện Trung ương Hà Nội tìm cách cứu thoát.

 Đến năm 1948, một lần nữa ông Ngô Đình Diệm từ chối lời mời của Cựu Hoàng thành lập Chính phủ trong Liên Hiệp Pháp. Từ đó ông xuất ngoại, đi vận động ngoại giao tại Trung Quốc, Nhật Bản, Hoa Kỳ, Thuỵ Sĩ, Pháp, Bỉ và được Đức Giáo Hoàng Piô XII tiếp kiến tại La Mã.

Năm 1950, ông theo người anh trai là giám mục Ngô Đình Thục đi Vatican, sau đó sang Nhật gặp hoàng thân Cường Để đang sống ở đây, và sau đó ông sang Mỹ sống tại đây trong hai năm, phần lớn thời gian lưu trú tại các trường dòng Lakewood ở New Jersey và trường dòng Ossining ở New York, đây cũng là thời kỳ ông gặp Hồng y Francis Joseph Spellman, người đã đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên sự nghiệp chính trị của ông sau này.

Đức Hồng y Francis Joseph Spellman (1889 - 1967)

Vì tình hình chiến sự suy sụp mau chóng sau khi thất thủ tại Điện Biên Phủ 07.05.1954, Chính quyền Pháp muốn rút lui trong danh dự nên đồng ý trao trả độc lập thực sự cho Việt Nam. Trước tình thế rất bi đát, đất nước có thể bị cắt làm đôi, Cựu Hoàng Bảo Đại đã kêu gọi lòng ái quốc và trách nhiệm trước sự tồn vong của dân tộc, đã yêu cầu ông Diệm nhận lãnh sứ mạng. Vì nghĩ rằng đây là cơ hội cuối cùng, ông có thể đứng ra lập Chính phủ để cứu nước nên ông đã nhận lời, bất chấp sự can ngăn của các chính khách thân hữu. Sự kiện lịch sử này xảy ra ngày 19.06.1954, trước khi Hiệp Định Genève chia cắt hai miền Nam Bắc đất nước theo sông Bến Hải (vĩ tuyến 17) ngày 20.07.1954 đúng sau 31 ngày. Ngày 24 tháng 06 năm 1954 Thủ tướng Diệm về nước thành lập Chính phủ.

Thủ tướng Ngô Đình Diệm về đến quê hương (25.06.1954)


Thủ tướng Quốc Gia Việt Nam 19.6.1954 - 26.10.1955

Trong thời kỳ đầu làm Thủ tướng quốc gia Việt Nam, thực tế ông không có quyền lực đối với các lực lượng quân đội, cảnh sát với những người đứng đầu là Trung tướng Nguyễn Văn Hinh (gốc sĩ quan Trung tá Không quân Pháp, vợ Pháp) và Thiếu tướng Lê Văn Viễn (Bình Xuyên). Hai lực lượng này liên minh với nhau nhằm chống lại ông, ông cũng không kiểm soát được bộ máy quan chức dân sự vì các viên chức Pháp đang còn nhiều, nắm giữ các vị trí then chốt. Nền tài chính vẫn do ngân hàng Đông Dương mà phía sau là Chính phủ Pháp quản lý. Thực tế trong gia đoạn đầu cầm quyền Thủ tướng ông không có quyền hành.

Tổng thống Hoa Kỳ Dwight David Eisenhower
(14 tháng 10 năm 1890 – 28 tháng 3 năm 1969)

Sự kiện quan trọng trong giai đoạn này là việc Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower gửi công hàm chính thức cho Thủ tướng Ngô Đình Diệm cho biết từ đây Chính phủ Việt Nam nhận viện trợ trực tiếp của Chính phủ Hoa Kỳ chứ không qua nhà đương cục Pháp như trước.

Ngô Đình Diệm cho rằng cơ hội duy nhất cho quốc gia Việt Nam đứng vững được là phải giành được độc lập thực sự, và ông nhất định thực hiện mục tiêu đó một cách dũng cảm và kiên trì hiếm có. Chỉ sau vài tháng nắm quyền Thủ tướng, tháng 12 năm 1954 ông bãi bỏ quyền phát hành giấy bạc của ngân hàng Đông Dương, từ nay giấy bạc lưu hành trên lãnh thổ miền Nam sẽ do ngân hàng Việt Nam mới thành lập phát hành và cục hối đoái giao cho Chính phủ Việt Nam quản lý, tiếp đó ông yêu cầu Chính phủ Pháp giao lại cho Việt Nam trong thời hạn năm tháng việc kiểm soát quân đội quốc gia lâu nay vẫn thuộc bộ chỉ huy Pháp.


Cao Đài : Thu phục tướng Trình Minh Thế

Trình Minh Thế (1922 - 3 tháng 5 năm 1955) (một số tài liệu viết là Trịnh Minh Thế) là một người theo chủ nghĩa quốc gia và là một Tướng lãnh quân sự tài ba trong thời gian cuối của cuộc kháng chiến tranh chống thực dân pháp, đầu cuộc chiến tranh Quốc - Cộng Việt Nam.

Trình Minh Thế sinh ở tỉnh Tây Ninh trong một gia đình theo đạo Cao Đài. Theo Phòng Nhì Pháp thì cha ông tên là Trình Trung Vinh, tuy nhiên nguồn khác lại cho biết cha ông là Trịnh Thành Quới một giáo chức Cao Đài, đồng thời là một thương gia phát đạt.

Gia đình họ Trịnh chuyển từ Bình Định vào miền Nam từ đầu thế kỷ 19 và đổi họ từ Trịnh sang Trình, theo gia đình ông là để tránh sự trả đũa của nhà Nguyễn với những người theo Tây Sơn (Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ).

Do sinh trưởng trong một gia đình có thế lực, Trịnh Minh Thế được hưởng sự giáo dục tốt hơn rất nhiều người Việt Nam đương thời nói chung. Ông tốt nghiệp tiểu học (Certificate of Primary Education),


Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, Nhật tiến vào Đông Dương. Phản ứng trước tình hình phong trào chống Pháp càng ngày càng gia tăng, toàn quyền Đông Dương là Đô đốc Decoux hành động quyết liệt. Ông ta cho đóng cửa một số nơi thờ tự của Cao Đài, rồi tới ngày 26 tháng 8 năm 1940 cho đóng cửa Toà thánh Tây Ninh. Tới ngày 27 tháng 7 năm 1941, nhiều lãnh đạo của Cao Đài, kể cả Hộ Pháp Phạm Công Tắc bị bắt giữ.

Để giành được sự ủng hộ của các tổ chức Việt Nam theo chủ nghĩa quốc gia, Nhật tiến hành bắt liên lạc và hỗ trợ cho họ, trong đó có Cao Đài. Tới tháng 2 năm 1943, Nhật giúp vị Phối Sư Cao Đài là Trần Quang Vinh mở lại thánh thất Cao Đài tại Sài Gòn. Để đáp lại, Cao Đài hợp tác tích cực với Nhật, Phối Sư Trần Quang Vinh kêu gọi giáo dân Cao Đài xung phong đăng lính cho quân Nhật, 10.000 giáo dân Cao Đài làm việc cho Nhật, đáng kể nhất là tại xưởng đóng tàu Nitian. Số người này sau giờ làm việc được huấn luyện quân sự. Nhờ vậy mà Trình Minh Thế được huấn luyện quân sự trong trường sỹ quan của Hiến binh Nhật (Kempetai), khi Nhật bắt đầu sử dụng lực lượng vũ trang Cao Đài. Tới năm 1945, ông trở thành một sỹ quan của lực lượng quân sự Cao Đài.

Được sự bảo trợ của Nhật, Phối Sư Trần Quang Vinh tổ chức lực lượng vũ trang gồm 3.000 người, tiếng là theo chỉ thị của Hoàng thân Cường Để. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, lực lượng Cao Đài mặc đồng phục trắng, đội mũ bê-rê, vũ trang bằng gậy tre vọt nhọn tham gia hỗ trợ Nhật đảo chính Pháp. Thủ lĩnh quân sự của Cao Đài là Trần Văn Thành tuyên bố Hoàng thân Cường Để chỉ thị thành lập lực lượng vũ trang Cao Đài liên minh với Nhật Bản để chống Pháp. Thời kỳ này Trình Minh Thế đã gia nhập lực lượng vũ trang Cao Đài.

Ông thành lập đội quân xung kích Hắc Y, mặc quần áo bà ba đen, sau trở thành đồng phục cho tất cả dân quân Liên Minh. Đầu năm 1949, Trình Minh Thế đưa lực lượng của mình từ các tỉnh miền Đông về Tây Ninh để ủng hộ Đức Hộ pháp Phạm Công Tắc, rồi sau đó được phong Thiếu tá.

Trung tướng Trình Minh Thế (1922 - 1955)

Lực lượng của Trình Minh Thế có quân số trên 3.000 người, bảo vệ cho Toà Thánh Tây Ninh tránh được các cuộc tấn công của lực lượng Việt Minh.

Tháng 6 năm 1951, Trình Minh Thế chính thức rời khỏi hàng ngũ giáo phẩm Cao Đài với chừng 2.000 người của mình và thành lập lực lượng riêng, lấy tên là Liên Minh, chủ trương chống cả Việt Minh và Pháp. Cha và anh của ông cũng thành lập lực lượng vũ trang trong Liên Minh, về sau hai người bị giết khi đụng độ với lực lượng Việt Minh.

Lực lượng Liên quân của Trình Minh Thế được cho là đã thực hiện một loạt các vụ Ám sát tại Sài Gòn từ năm 1951 tới năm 1953, chiến công lẫy lừng ám sát Thiếu tướng Chanson tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp Nam bộ Việt Nam tại Sa Đéc năm 1951.

Tháng 8 năm 1953, quân Pháp mở cuộc tấn công vào căn cứ của Trình Minh Thế, sử dụng một tiểu đoàn sơn cước Nùng tinh nhuệ. Quân Liên Minh phải tránh vào các hang động ở núi Bà Đen. Về sau Trình Minh Thế phải dời sở chỉ huy về núi Heo. Tới năm 1954, Liên Minh đã mở rộng địa bàn hoạt động về phía tây-nam, tới tận sông Cửu Long. Lực lượng của họ được chia làm nhiều tiểu đoàn, quân số có lẽ vào khoảng 4.500 người.

Edward Geary Lansdale Cố Vấn Ngô Đình Nhu

Tháng 9 năm 1954, Đại tá Lansdale (Phái bộ Mỹ) và Cố vấn Ngô Đình Nhu phát hiện ra tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng tham mưu trưởng quân đội Quốc gia, đang tiến hành âm mưu lật đổ Thủ tướng Diệm. Cùng lúc, quân Pháp phong toả các lực lượng Cao Đài định tiến vào Sài Gòn giải nguy cho Ngô Đình Diệm. Lực lượng Liên Minh của Tướng Thế đã tiến vào Sài Gòn, đáp lại lời kêu gọi ủng hộ Thủ tướng Diệm.

Cuộc đảo chính bị thất bại một phần các sỹ quan cấp dưới của tướng Hinh lấy lí do đi nghỉ mát, (vì ủng hộ Thủ tướng Diệm) thiếu những thuộc hạ cốt cán này, cuộc đảo chính không thể tiến hành được. Lý do quan trọng 3.500 quân Hắc y của Tướng Thế đã có mặt tại Sài Gòn để bảo vệ Thủ tướng.

Ngày 13 tháng hai năm 1955, quân lính của Trình Minh Thế chính thức sát nhập vào quân đội Nam Việt Nam, còn Trình Minh Thế được Thủ tướng Diệm gắn lon Thiếu tướng, (Thủ tướng Diệm chỉ có 2 Thiếu tướng: Lê văn Tỵ, Trình Minh Thế) quân Liên Minh Hắc y diễu hành vào Sài Gòn. Tân Thiếu tướng Trình Minh Thế điều động 15.000 quân Cao Đài về Toà Thánh Tây Ninh như lực lượng dự bị, còn mình dẫn phần lớn lực lượng của mình gồm 3.500 người về gia nhập quân đội quốc gia như thoả thuận với Thủ tướng Ngô Đình Diệm.

Trong khoảng thời gian từ tháng 3 tới tháng 5 năm 1955, tình hình tại Sài Gòn trở nên rất căng thẳng. Mâu thuẫn gay gắt về cả quyền lực chính trị lẫn kinh tế khiến đụng độ vũ trang giữa phe Chính phủ và liên minh lực lượng vũ trang giáo phái cùng Bình Xuyên là khó tránh khỏi. Thủ tướng Diệm kiên quyết tiêu diệt lực lượng vũ trang đối lập, còn lực lượng giáo phái nhờ vào sự hậu thuẫn của Pháp cũng quyết không chịu nhượng bộ. Thủ tướng Ngô Đình Diệm đưa vào Sài Gòn các đơn vị trung thành gồm 3 tiểu đoàn Nùng, rồi 2 tiểu đoàn dù dưới quyền đại tá Đỗ Cao Trí. Các đơn vị này cộng vào số binh sĩ của tướng Trình Minh Thế (Cao Đài), đại tá Nguyễn Văn Huê (Hoà Hảo) và thiếu tá Nguyễn Văn Đày (Hoà Hảo) làm cho cán quân lực lượng nghiêng về phía quân Chính phủ, so độ 4.000 - 5.000 quân Bình Xuyên tại vùng Sài Gòn - Chợ Lớn.

Ngày 8 tháng 3 năm 1955, 7 tiểu đoàn quân Chính phủ bắt đầu hành quân tiêu diệt lực lượng đối lập là đảng Đại Việt tại Quảng Trị (Trung tá Nguyễn Bôn tự xưng Đại tá lập chiến khu Ba Lòng gần Khe Sanh), và tới ngày 25 tháng 3, quân dù mở cuộc tấn công vào phe đối lập tại Sài Gòn, nhưng Cao uỷ Pháp là tướng Paul Ely cùng tướng Lawton Collins (Mỹ) gây sức ép buộc quân Chính phủ phải ngưng chiến. Tuy nhiên, thế lực của quân Chính phủ được củng cố lên nhiều khi ngày 29 tháng 3, tướng Nguyễn Thanh Phương, tư lệnh các lực lượng Cao Đài tuyên bố ủng hộ Chính phủ. Tình hình căng thẳng giữa hai bên kéo dài, các thoả hiệp do Pháp và Mỹ làm trung gian đưa ra đều bị hai bên bác bỏ, tới ngày 26 tháng 4, xung đột quân sự bùng nổ trở lại. Quân đội Chính phủ nhanh chóng đánh tan sức kháng cự của quân Bình Xuyên, tới cuối tháng 4, quân Bình Xuyên hoàn toàn bị đánh bại, bị đẩy khỏi thành phố, bị quân Chính phủ truy kích.

Ngày 3 tháng 5 năm 1955, khi đang ngồi trên xe Jeep chỉ huy tiến quân qua cầu Tân Thuận, tướng Trình Minh Thế bị một viên đạn carbin bắn tỉa bắn vào sau gáy. Vụ giết người này suốt một thời gian không được làm sảng tỏ được, một số người đổ lỗi cho phía Pháp (vì họ đã thề giết cho bằng được Trình Minh Thế trong suốt nhiều năm, lúc này các giang thuyền Pháp tuần tiểu trên sông Sài Gòn, lấy lí do bảo vệ kiều bào Pháp), trong khi một số người khác đổ lỗi cho Chính quyền Đệ nhất Cộng Hoà. Hoàn cảnh cái chết của ông cũng gây nhiều tranh cãi, khi có nhiều thông tin khác nhau, thậm chí đối lập nhau về thời gian, địa điểm, vết thương gây nên cái chết của ông … Khi nghe tin Tướng Thế tử trận, Thủ tướng Diệm bật khóc, Thủ tướng truy thăng Trung tướng, tang lễ cữ hành nghi thức trọng thể: Tướng Lãnh Vị quốc vong thân. Ông được chôn cất tại núi Bà đen, gần Toà thánh Tây ninh, nơi những năm tháng ông kháng chiến chống Pháp và Cộng sản.

Sau khi chết, tên ông được đặt cho con đường dọc suốt Quận 4 Sài Gòn đến cầu Tân Thuận cho tới năm 1975.

Dù Tình báo Pháp đã thú nhận sau này (1977) chính họ đã bắn tỉa từ một giang thuyền trên Sông Sài Gòn dưới cầu Tân Thuận, do nhận được tin từ một sĩ quan Việt Nam tại Bộ Tồng tham Mưu (sĩ quan này ủng hộ Tướng Hinh, Tướng Viễn, Bình Xuyên, vốn sĩ quan tình báo của Pháp trước đây).


Dẹp loạn : Bình Xuyên - Tướng Lê Văn Viễn (Bảy Viễn)

Bảy Viễn (1904 - 1970) là tên của một tướng cướp lừng danh trước năm 1945, về sau tham gia tổ chức lực lượng vũ trang chống Pháp, sau ly khai trở về hợp tác với Chính quyền Bảo Đại. Bảy Viễn cũng là thủ lĩnh của lực lượng Bình Xuyên chống đối và bị Thủ tướng Ngô Đình Diệm dẹp tan vào năm 1955.

Bảy Viễn tên thật là Lê Văn Viễn, sinh năm Giáp Thìn (1904) tại Phong Đước, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (nay là Quận 8). Cha là Lê Văn Dậu, người Hoa gốc Triều Châu.

Bảy Viễn, thủ lĩnh Bình Xuyên (1904 - 1970)

Năm 1921, Bảy Viễn vào tù lần đầu với bản án 20 ngày tù giam khi mới 17 tuổi do phạm tội trộm xe đạp.

Năm 1927, Bảy Viễn phạm tội hành hung người khác và bị phạt giam 2 tháng tù.

Năm 1936, Bảy Viễn bị Chính quyền Nam Kỳ tuyên án 12 năm khổ sai đày đi Côn Đảo do tội cướp có vũ trang (súng). Tuy nhiên, đến năm 1940, Bảy Viễn vượt ngục thành công về đất liền sau 4 lần thất bại.

Năm 1942, Bảy Viễn bị bắt trong vụ tổ chức cướp xưởng mộc Bình Triệu. Toà án tuyên phạt 12 năm khổ sai cộng thêm 8 năm còn thiếu trước đây là 20 năm.

Năm 1945 tham gia kháng chiến chống Pháp và trở thành Chi đội trưởng Chi đội 9 thuộc Liên khu Bình Xuyên, do Ba Dương (tức Dương Văn Dương) làm Tổng chỉ huy.

Ngày 20 tháng 2 năm 1946 Ba Dương hy sinh trong một trận chống càn của Pháp ở Bến Tre khi chỉ huy một bộ phận quân Bình Xuyên vượt sông Soài Rạp từ Rừng Sát về cứu nguy cho mặt trận An Hóa - Giao Hoà. Sau khi Ba Dương hy sinh, Bảy Viễn vận động để nắm chức Tư lệnh Bình Xuyên nhưng một số cán bộ chỉ huy trưởng các chi đội Bình Xuyên đã không tán thành.

Tháng 5 năm 1946 Tướng Nguyễn Bình tư lệnh Viêt Minh tại Nam bộ ký quyết định phong cho Bảy Viễn làm Khu Bộ phó chiến khu 7 với ý định tách Bảy Viễn ra khỏi vị trí trực tiếp chỉ huy lực lượng Bình Xuyên và để Bảy Viễn không bất mãn bỏ kháng chiến về với Pháp.

Tháng 12 năm 1947, Trung tá Savani (Phòng Nhì Pháp) cho người bí mật tiếp xúc với Bảy Viễn để chuẩn bị lập Chiến khu Quốc gia Rừng Sát.

Cuối tháng 5 năm 1948, Bảy Viễn mang hai đại đội võ trang mạnh, thân tín nhất, có cả trung liên và đại liên, từ Rừng Sát, vượt sông Soài Rạp, băng qua lộ 4, xuôi theo dòng kênh Dương Văn Dương (Lagrange) đến căn cứ địa của Nam Bộ, tại làng Nhơn Hoà Lập để họp và nhận chức Khu bộ trưởng Chiến khu 7.

Tại cuộc họp Trung Tướng Nguyễn Bình quyết định giải tán tổ chức Bình Xuyên phiên chế thành các Trung đoàn Vệ Quốc Đoàn để phá tan âm mưu chia rẽ quốc gia và Việt Minh của Phòng nhì Pháp. Bảy Viễn phản đối quyết liệt.

Rạng sáng ngày 27 tháng 5 năm 1948, Bảy Viễn đã âm thầm rút quân Bình Xuyên rời chiến khu Đồng Tháp đến Đông Thành nơi Chi đội 4 của Mười Trí (bạn thân Bảy Viễn) đóng quân và cho bạn biết ý định về hợp tác với Pháp. Mười Trí không ngăn cản nhưng âm thầm phân tán lực lượng võ trang của Bảy Viễn. Cho nên khi rút về tới xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, Bảy Viễn chỉ còn có hai trung đội.

Sau khi về hợp tác với Pháp, Bảy Viễn được Tướng De la Tour gắn lon Đại tá.

Từ năm 1948, lực lượng Bình Xuyên ly khai là một lực lượng quân sự bổ sung nằm trong khối Liên hiệp Pháp, địa bàn hoạt động ở xung quanh Sài Gòn. Dưới sự đồng thuận của Pháp, Bình Xuyên kiểm soát nhiều sòng bài, nhà thổ (gái mãi dâm), cùng những thương cuộc lớn nhỏ khắp vùng Sài Gòn-Chợ Lớn trong đó phải kể Casino Grande Monde (Đại Thế Giới), Casino Cloche d’Or (Kim Chung), Bách hoá Noveautes Catinat . Sau Hiệp định Genève, Bình Xuyên trở thành một bộ phận Sứ Quân cát cứ trong Quân đội Quốc gia Việt Nam.

Năm 1952, Bảo Đại phong cho Bảy Viễn cấp bậc Thiếu tướng 2 sao (Général de Brigade).

Tháng 7 năm 1954 Thủ tướng Ngô Đình Diệm chấp chính thành lập Chính phủ trung ương và nộp danh sách nội các. Lê Văn Viễn, vị chỉ huy Bình Xuyên đòi được tham chính và đưa ra yêu sách lập Chính phủ mới. Lực lượng Bình Xuyên cùng với quân đội Cao Đài và Hoà Hảo còn lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia và gửi tối hậu thư buộc Chính phủ phải có danh sách mới trước ngày 26 tháng 3 năm 1955.

Thủ tướng Ngô Đình Diệm và Bảy Viễn

Thủ tướng Ngô Đình Diệm không chịu nhượng bộ nên Bình Xuyên mở cuộc tấn công Bộ tổng tham mưu rồi pháo kích vào Dinh Độc Lập. Sang tháng 4 năm 1955 thì quân Bình Xuyên đánh thành Cộng Hoà. Quân đội Quốc gia phản công, phá được căn cứ chính của Bình Xuyên ở khu vực cầu Chữ Y khiến lực lượng Bình Xuyên phải triệt thoái khỏi Sài Gòn, Chợ Lớn và rút về Rừng Sát.

Tháng 9 năm 1955, Thủ tướng Ngô Đình Diệm cử đại tá Dương Văn Minh thay Tướng Thế mở Chiến dịch Hoàng Diệu truy nã Bình Xuyên ở Rừng Sát. Quân Bình Xuyên bị hoàn toàn tiêu diệt. Lê Văn Viễn đào tẩu sang Campuchia rồi lưu vong sang Pháp, chấm dứt thực lực của Bình Xuyên.

Một lực lượng Bình Xuyên ly khai khác do Võ Văn Môn (tức Bảy Môn) chỉ huy đào thoát về miền Đông Nam Bộ, lập căn cứ rồi theo Việt cộng. Sau 1975 là Đại tá Cộng sản hồi hưu sống tại Sài Gòn.

Năm 1970 Bảy viễn qua đời tại Paris.


Ba Cụt chỉ huy quân đội của giáo phái Hoà Hảo 

Ba Cụt ( ? - 1956) tên thật Lê Quang Vinh là chỉ huy quân đội của giáo phái Hoà Hảo chống lại Quân đội Quốc gia Việt Nam, Việt Minh, vào những năm cuối thập niên 1940 và đầu thâp niên 1950.

Lực lượng quân sự của giáo phái Hoà Hảo được thành lập dưới sự hậu thuẫn của quân đội Pháp như là Lực lượng Bổ sung (Suppletif Forces) để chống Việt Minh. Và Ba Cụt là một trong những chỉ huy của lực lượng này, được Pháp gắn lon Đại tá

Sau năm 1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm cho tiến hành thương thuyết với các giáo phái để thống nhất lực lượng quốc gia, tiến tới thành lập Việt Nam Cộng Hoà. Nhưng dưới sự hỗ trợ và khuyến khích của Pháp, Ba Cụt không những không hợp tác mà còn liên minh với quân Bình Xuyên để chống lại Chính phủ. Tự phong Thiếu tướng .

Thủ tướng Ngô Đình Diệm cho tiến hành các chiến dịch Đinh Tiên Hoàng (mở ngày 23 tháng 5 năm 1955) và chiến dịch Nguyễn Huệ (mở ngày 1 tháng 1 năm 1956) để tiêu diệt quân Ba Cụt nhưng vẫn không thanh toán được. Sau đó Tổng thống Ngô Đình Diệm chỉ đạo cho Phó Tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ thương thuyết, chấp nhận cho Ba Cụt về hợp tác với Chính quyền, phong thiếu tướng, Ba Cụt giả vờ thương thuyết để rút vảo Đồng tháp Mười kháng chiến, nhận viện trợ của Pháp rồi vào phút cuối trở mặt.

Ngày 02.06.1956 Quân lực Việt Nam Cộng Hoà tiến quân vào nơi trú ẩn Ba Cụt, bắt sống ông ta trên chiếc thuyền nhỏ. Ông ta tuyên bố trên đường ra hợp tác với Chính quyền ?

Cả hai phiên toà sơ thẩm (ngày 11 tháng 6 năm 1956) và thượng thẩm (ngày 26 tháng 6 năm 1956) của Toà Đại Hình và phiên toà ngày 4 tháng 7 năm 1956 của Toà Án Quân Sự đều tuyên án tử hình Đai tá Lê Quang Vinh với tội danh mưu phản.

Vào lúc 5 giờ 45 phút sáng ngày 13 tháng 7 năm 1956, Ba Cụt đã bị hành quyết bằng cách lên máy chém tại Cần Thơ.

Ba Cụt Lê Quang Vinh đang được 2 Hiến binh dẫn ra pháp trường 
để lãnh án tử hình bằng máy chém tại Cần Thơ


Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà: 26.10.1955 - 02.11.1963

Tại miền Nam, từ 1954 - 1955, với cương vị Thủ tướng, ông đã dẹp yên và thu phục các lực lượng Bình Xuyên, Hoà Hảo, Cao Đài vốn là các tổ chức do Pháp đứng sau hỗ trợ nhằm chống lại ông, tiếp đó là cuộc trưng cầu dân ý miền Nam Việt Nam, 1955 đã chấm dứt chính thể quốc gia Việt Nam - quốc trưởng Bảo Đại bị truất phế. Chính thể mới Việt Nam Cộng Hoà được thành lập vào ngày 26 tháng 10 năm 1955 và ông được bầu làm Tổng thống vào ngày 23 tháng 10 năm 1955. 2 năm sau, 1957 ông có chuyến viếng thăm chính thức Hoa Kỳ lần đầu tiên với cương vị Tổng thống của Việt Nam Cộng Hoà.

TT Ngô Đình Diệm bắt tay với Tổng thống Mỹ Dwight D. Eisenhower, tại sân bay Dulles, 
Washington DC năm 1957. Courtesy U.S. Air Force. Photo: RFA

Tổng thống Dwight Eisenhower đích thân ra tận phi cơ đón chào: 24 phát súng đại bác đón chào Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà. Tổng thống Eisenhower ca ngợi Tổng thống Diệm là Churchill Châu Á. Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà đọc diễn văn trước Quốc hội Hoa Kỳ tất cả Nghị Sĩ đứng dậy vỗ tay rầm trời trước câu nói bất hủ của Tổng thống VNCH: "Nếu Hồng quân Trung Hoa vuợt vĩ tuyến 17 muốn nhuộm đỏ Miền Nam, biên giới của Mỹ Quốc và Thế giới tự do sẽ kéo dài đến vĩ tuyến 17".


Cái chết của Tổng thống Ngô Đình Diệm 02/11/1963

Sự kiện Phật Đản 1963 tại Huế do Thượng toạ Trí Quang xách động xảy ra là một trong những nguyên nhân chính dẫn tới Chính phủ Tổng thống Kennedy bỏ rơi Tổng thống Ngô Đình Diệm và khuyến khích đảo chính để lật đổ nền Đệ Nhất Cộng Hoà, đã đưa Miền Nam đến tình trạng hỗn loạn. Cuộc đảo chính diễn ra vào lúc 11h30 ngày 01 tháng 11 năm 1963, lực lượng đảo chính đã chiếm dinh Tổng thống, ông và Ngô Đình Nhu ra khỏi dinh và về lánh nạn tại nhà thờ Cha Tam - Chợ Lớn.

Ngô Đình Diệm (Phải) và Ngô Đình Nhu - Ảnh: TL

Sau khi bị lật đổ bởi các Tướng Lãnh dưới quyền (mà Tổng thống Diệm từng gắn sao trên cổ áo cho họ) ngày 1 tháng 11 năm 1963, ông cùng em trai - cố vấn Ngô Đình Nhu lánh nạn tại nhà thờ Cha Tam, ông cùng với ông Nhu gọi điện chấp nhận bàn giao Chính quyền cho các Tướng Đảo chánh để tránh tình trạng chia rẽ quân đội.

Trên đường bị chở về Bộ Tổng tham mưu, ông và Ngô Đình Nhu bị hiếu tá Nhung trong lực lượng đảo chính hạ sát dã man.

Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung là một sĩ quan trong Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Là cận vệ của tướng Dương Văn Minh, ông nổi tiếng vì có vai trò trong cuộc đảo chính lật đổ Ngô Đình Diệm tháng 11 năm 1963. Trong cuộc đảo chính này, Nguyễn Văn Nhung được cho rằng là người đã giết chết Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu, cũng như đại tá Lê Quang Tung, chỉ huy trưởng Lực lượng đặc biệt của Quân lực VNCH.

Đảo chánh lật đổ chế độ Diệm chưa đầy 100 ngày thì các tướng Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh và đại tá Nguyễn Chánh Thi làm cuộc “chỉnh lý 30.1.1964”. Để trả thù cho ông Diệm, những người làm “chỉnh lý” bắt ngay thiếu tá Nguyễn Văn Nhung. (Nguyễn Văn Nhung mới lên thiếu tá từ sau ngày đảo chánh 1.11.1963).

Ngày 17.2.1964, sĩ quan báo chí Bộ Quốc phòng của Nguyễn Khánh chính thức tiết lộ: “Thiếu tá Nguyễn Văn Nhung sỹ quan tổng quát và tùy viên của trung tướng Dương Văn Minh bị bắt giữ hồi đêm 30-1 và giam tại Lữ đoàn Nhảy dù trại Hoàng Hoa Thám, ông Nhung tự vận bằng dây giày”.

Theo bà Huỳnh Thị Nhi, vợ góa của thiếu tá Nguyễn Văn Nhung sống với gia đình ở quận 8. Bà quả phụ Huỳnh Thị Nhi cho biết: khi được báo tin chồng chết bà đến nhận xác chồng ở Bệnh viện Cộng Hòa, nhưng các bác sĩ pháp y không ai dám xác nhận chồng bà đã chết bằng cách gì. Ngay cả bác sĩ Nicola Võ Minh Kỵ làm giám đốc Bệnh viện Cộng Hòa có bà con với gia đình bà cũng đóng cửa phòng để tránh việc phải xác nhận về cách chết của Nguyễn Văn Nhung. Nếu ông Nhung tự tử bằng dây giày thì việc xác nhận có gì khó khăn đâu để những người có trách nhiệm trong pháp y sợ hãi phải từ chối né tránh đến vậy? cho biết thêm khi khâm liệm ông Nhung bà thấy trên mặt trên đầu trên thân thể ông có hàng chục vết bầm tím, có vết còn in nguyên dấu đế giày bốt-đờ-xô.

Trong khoảng thập niên 1980, Cộng sản ra lệnh di dời nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi. Nghĩa trang Mạc Đĩnh Chi được di dời về nghĩa trang Lái Thiêu ngày nay. Mộ hai ông nằm hai bên mộ thân mẫu, bà Phạm Thị Thân, ngoài ra, mộ ông Ngô Đình Cẩn cũng được dời về gần đó. Mộ hai ông không có tên mà chỉ ghi tên thánh là "Huynh" (chỉ ông Diệm) và "Đệ" (ông Nhu).



Bài học Lịch sử

Bài học lịch sử quan trọng và thiết thật nhất mà Tổng thống Ngô Đình Diệm đã để lại cho chúng ta: Đó là lập trường cương quyết Bảo Vệ Chủ Quyền Quốc Gia. Tổng thống Diệm là con người đã hy sinh cả cuộc đời để tranh đấu cho độc lập và chủ quyền quốc gia. Đối với ông, đó là những thứ thiêng liêng nhất, không thể bị hy sinh, không thể dùng để đổi chác với cứ điều gì. Với ông, nếu để người Mỹ can thiệp vào nội bộ Việt Nam, thì chủ quyền quốc gia sẽ bị xâm phạm, chính nghĩa cuộc tranh đấu chống cộng cũng mất.

Trong cuộc viếng thăm chính thức Việt Nam ngày 9 tháng 5 năm 1961, Phó Tổng thống Mỹ Johnson đã đề nghị việc gửi Quân đội Mỹ sang tham chiến tại Việt Nam. Tổng thống Diệm đã bày tỏ quan điểm Chính phủ Việt Nam rất biết ơn sự viện trợ quân sự và cố vấn Mỹ. Nhưng với việc gửi Quân đội Mỹ đến Việt Nam ông đã cương quyết từ chối và nói:

'Nếu Qúy vị mang Quân đội Mỹ vào Việt Nam, tôi phải giải thích thế nào đây với dân tộc tôi ? Với người dân Việt, hình ảnh hãi hùng của Quân đội Viễn Chinh Pháp còn hằn sâu trong tâm trí họ. Sự hiện diện của Quân đội Mỹ sẽ làm cho dân chúng dễ dàng tin theo những lời tuyên truyền của Cộng sản. Sự can thiệp của bất cứ quân đội ngoại quốc nào vào Việt Nam cũng đem lại sự bất lợi cho Việt Nam, vì làm cho cuộc chiến đấu của chúng ta mất chính nghĩa.'

Và như chúng ta đã biết thái độ cương quyết từ chối này đã là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chính biến ngày 1 tháng 11 năm 1963 của một nhóm tướng lãnh phản loạn và cái chết thê thảm của chính Tổng thống Ngô Đình Diệm và ông Cố vấn Ngô Đình Nhu. Bài học lịch sử thật đắt giá.

Sự vĩnh viễn ra đi của Tổng thống Ngô Đình Diệm đã gây xúc động sâu xa và niềm thương cảm lớn lao nơi các lãnh tụ Á Châu thời đó. Tổng thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch đã than thở:
'Người Mỹ có trách nhiệm nặng nề vụ ám sát xấu xa này. Trung Hoa Dân Quốc mất đi một đồng chí tâm đầu ý hợp. Tôi khâm phục ông Diệm. Ông xứng đáng là một lãnh tụ lớn của Á Châu. Việt Nam có lẽ phải mất 100 năm nữa mới tìm được một nhà lãnh tụ cao quý như vậy.'

Hơn nữa, cái chết của Cố Tổng thống Diệm cũng đã làm cho các lãnh tụ Á Châu, đồng minh của Mỹ phải giật mình và đặt vấn đề. Chính Tổng thống Hồi Quốc, Ayub Khan, đã nói thẳng với Tổng thống Nixon:
'Cuộc thảm sát Tổng thống Ngô Đình Diệm đã khiến các lãnh tụ Á Châu chúng tôi rút ra được một bài học khá chua chát: Đồng Minh với Mỹ thật nguy hiểm ! Có lợi hơn nên đứng thế trung lập. Và có lẽ hữu ích hơn nữa khi là kẻ thù của Hoa Kỳ.'

Tổng thống Ngô Đình Diệm có thể đã phạm một số sai lầm khi cầm quyền. Nhưng bất cứ người nào, dù là đồng minh như Hoa Kỳ hoặc đối thủ như Cộng sản, cũng phải công nhận rằng Tổng thống Diệm là một nhà lãnh tụ nhiệt tình yêu nước và không làm cho người dân Việt phải hổ thẹn, vì ông đã cố bảo vệ đến cùng thể diện và uy quyền quốc gia.


Mộ cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm ở Bình Dương

Hai nấm mồ khiêm tốn của Tổng thống và ông Cố Vấn nằm quạnh hiu nơi nghĩa trang Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương là một bài học lịch sử quý giá cho Việt Nam.

Đức cha Hoàng Đức Oanh dâng lễ trước mộ phần tổng thống Ngô Đình Diệm. 
(Hình: Nhật Bình/Người Việt)

Sáng 31 tháng 10 năm 2016, thánh lễ cầu nguyện, nhân ngày giỗ lần thứ 53 (2.11.1963 – 2.11.2016) của cố Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và các huynh đệ của ông tại nghĩa trang Lái Thiêu, tỉnh Bình Dương, diễn ra với hơn 200 người dân tham dự. Ðặc biệt hơn lần này người dân đã công khai mang theo di ảnh của cố tổng thống đặt trên bia mộ của ngài.

Nghĩa trang Lái Thiêu cách trung tâm Sài Gòn khoảng 30km, đi theo hướng Thủ Ðức qua cầu Bình Triệu, thẳng tiến quốc lộ 13 qua ngã tư Bình Phước, khoảng 10km là đến ngã tư thuộc ấp Ðông Ba, xã Bình Hòa, huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương, thì quẹo phải vào đường DT743 đi thêm 2km nữa là đến nghĩa trang Lái Thiêu.

Tại đây, phía tay phải, mặt tiền đường DT743 là nghĩa trang Lái Thiêu A. Mộ của Tổng Thống Ngô Ðình Diệm và thân quyến năm góc cuối nghĩa trang, dãy thứ 4 (tính từ mặt tiền đường vào). So với các năm trước thì hiện nay con đường vào nghĩa trang đã tráng nhựa bê tông nên thuận tiện đi lại, nghĩa trang cũng đã được làm hàng rào thép gai lưới B40 chứ không hoang sơ như ngày xưa nữa.

Rất đông người dân tham dự lễ giỗ tổng thống.

Số người tham dự khoảng hơn 200 người, với đủ mọi thành phần trong xã hội, từ người Công Giáo đến ngoại đạo, từ người già cho đến trẻ nhỏ, ngoài ra lực lượng khá đông đảo là các thương phế binh Việt Nam Cộng Hòa, mặc đầu không đủ tay chân để có thể đi lại, nhưng với lòng kính nhớ, đã không ngăn được các ông đến viếng vị tổng thống của mình.

Khoảng 10 giờ sáng, thánh lễ cầu nguyện cho cố tổng thống và thân quyến bắt đầu. Mở đầu thánh lễ, Ðức Giám Mục Micae Hoàng Ðức Oanh nguyên giám mục chính tòa giáo phận Kon Tum làm chủ lễ.

LS Lê Công Định thắp hương mộ phần ông cố vấn Ngô Đình Nhu. 
(Hình: Nhật Bình/Người Việt)



mardi 1 novembre 2016

SỨC KHOẺ : Kỷ niệm 65 năm thành lập 'Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức' VNCH


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức, Liên trường Võ khoa Thủ Đức hay còn gọi là Trường Bộ binh Thủ Đức là một trong bốn trường đào tạo Sĩ quan cho Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ba trường kia là Trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, Trường Huấn luyện Không quân Nha TrangTrường Sĩ quan Hải quân Nha Trang. Trường Thủ Đức hoạt động từ năm 1951 đến năm 1975.

Sau ngày 30 tháng 4, 1975,  nhiều cựu SVSQ Trường Bộ Binh Thủ Đức đã đến được miền Nam California, và thành lập Hội lấy tên là Hội Ái Hữu Cựu SVSQ Trừ Bị Thủ Đức, và chiều tối thứ Bảy, 22 tháng 10, 2016 Hội đã long trọng tổ chức buổi kỷ niệm 65 năm ngày thành lập Trường Mẹ tại Paracel Seafood Restaurant, Westminster - California.


Buổi kỷ niệm mang chủ đề “Giữa Quê Người Tôi Hát Tên Anh” và được sự tham dự của cựu Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị, Đệ Nhị Đẳng Bảo Quốc Huân Chương, nguyên Chỉ Huy Trưởng Trường Chỉ Huy và Tham Mưu tại Đà Lạt. Ngoài người anh cả trên còn có các niên trưởng Trần Ngọc Thống, Hồ Sĩ Khải, Lê Bá Khiếu, Dương Văn Lý, Nguyễn Ánh Nhật, Nguyễn Vĩnh Đạt, Dương Văn Lý, Lê Khắc Nhượng, Huỳnh Bửu Sơn, Võ Ngọc Lim, Trần Bá Thành, Vũ Trọng Mục, Trần Văn Thông, Phạm Văn Quang, Nguyễn Huy Hiền, Lê Hiến, Nguyễn Trường cùng đại diện nhiều hội đoàn, binh chủng trong QL/VNCH, các cơ quan truyền thông và hàng trăm cựu SVSQ xuất thân từ quân trường danh tiếng này.

Đặc biệt, một phái đoàn cựu tướng lãnh và sĩ quan cao cấp Đại Hàn từng tham chiến tại Việt Nam như Thiếu Tướng Jung Ho Park, các Đại tá Jong Chul Lim, Perer Jun, hai Trung tá David KimSam Kim cũng đến tham dự.


Sau nghi thức khai mạc, ban tổ chức mời Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị và quý niên trưởng: Nguyễn Trọng Thu (Hội Trưởng) và Nguyễn Huy Hiền lên đặt “Quân Kỳ Rũ”, một hình thức đặc biệt tưởng niệm các chiến sĩ , các đồng môn đã ra đi của Quân Lực VNCH.

Quý niên trường (hàng đứng) và các cựu SVSQ trường BB Thủ Đức trong ngày kỷ niệm 65 thành lập trường Mẹ. (Thanh Phong/ Viễn Đông)

Trong tiếng kèn”Chiêu Hồn Tử Sĩ” và giọng ngâm trầm buồn của Hồng Trúc, mọi người thinh lặng cúi đầu tưởng niệm anh linh các chiến sĩ QL/VNCH và đồng minh đã hy sinh cho miền Nam VN, anh linh các đồng môn Trường Võ Khoa Thủ Đức đã vị quốc vong thân hay tử nạn trên đường tìm tự do.


Sau đó, cựu SVSQ Nguyễn Trọng Thu, Hội Trưởng Hội Ái Hữu Cựu SVSQ Thủ Đức lên chào mừng và cám ơn sự tham dự của quý niên trường, chiến hữu, thân hữu để cùng nhau làm lễ truy điệu những vị anh hùng đã tuẫn tiết, tất cả anh linh chiến sĩ QL/VNCH đã hy sinh, ông nói: Vì thế trong đêm nay chúng ta có hai thành phần tham dự, các cựu SVSQ hiện tiền và các cựu SVSQ đã quá vãng!

Cựu Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị được mời phát biểu, ông nhắc lại một vài nét tiêu biểu của Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức, đồng thời đề cập đến các thương phế binh, quả phụ VNCH đang sống cơ cực tại quê nhà, ông ca ngợi tinh thần của đồng hương, của các anh em cựu quân nhân QL/VNCH đã đóng góp hơn một triệu Mỹ Kim trong Đại Nhạc Hội Cám Ơn Anh kỳ 10 ông cũng ca ngợi, cám ơn sự hy sinh cao cả của Hội H.O. Cứu Trợ TPB/QP/VNCH mà nữ Trung Tá Nguyễn Thị Hạnh Nhơn là người đứng đầu. Tiếp đến, Dr. Kimberly Hồ lên cám ơn niên trưởng Nguyễn Bảo Trị cùng tất cả quý cựu SVSQ trường BB Thủ Đức và toàn thể quan khách. Cô cũng trao món quà $1,000 để ủng hộ quỹ hội. Tiếp nối là tiệc mừng hội ngộ và một chương trình văn nghệ đặc sắc.

Quân kỳ

Theo tài liệu từ cuốn Lược Sử QL/VNCH do cựu ĐT Trần Ngọc Thống, Th/T Hồ Đắc Huân và Tr/U Lê Đình Thụy ấn hành; Do nhu cầu, Quốc Trưởng Bảo Đại ký sắc lệnh ngày 15.7.1951 thành lập trường đào tạo sĩ quan trừ bị tại Nam Định và Thủ Đức,và ngày nhập khóa 1 đầu tiên ở cả hai nơi là ngày 1 tháng 10, 1951. Tên trường lúc đầu là Trường Sĩ Quan Trừ Bị. Sau thời gian gián đoạn vì Hiệp Định Geneve chia đôi đất nước, cuối tháng 2, 1957 trường tái hoạt động tại Thủ Đức và huấn luyện sĩ quan Bộ Binh, Thiết Giáp, Pháo Binh, Công Binh,Truyền Tin, Quân Cụ, v.v. nên được cải danh thành Liên Trường Võ Khoa Thủ Đức. Đến tháng 10/1961 các trường chuyên môn tách ra khỏi Liên Trường, chỉ còn trường Bộ Binh và Thiết Giáp nên vào ngày 1 tháng 8, 1963 tên trường trở lại như ban đầu là Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, và ngày 1 tháng 7, 1964 Trường Sĩ Quan Trừ Bị cải danh thành Trường Bộ Binh Thủ Đức và giữ danh xưng này cho đến ngày mất nước.

Phù hiệu

Từ ngày thành lập đến 30 tháng 4, 1975, Trường có 18 vị Chỉ Huy từ cấp Đại Tá đến Trung Tướng, và đã huấn luyện được 27 khóa với khoảng 60.000 sĩ quan. Các cựu SVSQ rất hãnh diện được xuất thân từ quân trường nổi tiếng này và mang trên người bộ quân phục với phù hiệu “Cư An Tư Nguy”.