dimanche 23 novembre 2014

SỨC KHOẺ : Thoái hoá khớp gối (Arthrose du genou)


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Khớp gối là khớp rất quan trọng, gánh toàn bộ cơ thể và là khớp vận động nhiều nhất chính vì thế nó rất dễ bị thoái hóa. Khi bị thoái hóa khớp gối người bệnh sẽ bị giảm chức năng sinh hoạt hằng ngày, gây khó khăn trong vận động, đi lại, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống. Vì thế cần phát hiện sớm bệnh để ngăn ngừa quá trình thoái hóa thêm, hạn chế tàn phế xảy ra.


Bảo vệ sụn khớp - vai trò quan trọng với thoái hóa khớp

Một nghiên cứu công bố năm 1990 cho: Khoảng 52% người trên 35 tuổi và 80% người trên 70 tuổi có ít nhất một tổn thương thoái hóa khớp. Các nhà nghiên cứu bắt đầu tìm hiểu và khám phá ra những nguyên do làm hư hại sụn khớp - tổn thương chính của bệnh thoái hóa khớp.

Sụn khớp là phần bao bọc 2 đầu xương, nơi 2 đầu xương tì lên nhau khi khớp cử động. Sụn khớp bình thường có bề mặt trơn, nhẵn bóng, rất cứng và chịu đàn hồi tốt, chịu ma sát do vậy, giúp 2 đầu xương trượt lên nhau một cách dễ dàng. Đồng thời tăng khả năng chịu lực, giúp khớp thích nghi được với những cử động mạnh (chạy nhảy), áp lực lớn (bê vác nặng…).


Sụn (cartilage) là lớp tế bào nom trong như thạch, rất bền và dai, không có mạch máu và dây thần kinh. Công dụng giảm ma sát khi khớp cử động. Quan trọng như vậy mà sụn lại gồm những tế bào rất mỏng manh, khó nuôi cấy, dễ thoái hóa và khó tái tạo sau khi bị chấn thương. Cho nên sụn sẽ bị suy yếu khi khớp bất động, không được dùng tới.

Sụn chứa 75% nước khi khớp cử động,nước đó ra vào thấm qua màng hoạt dịch xương khớp. Khớp nằm trong một cái túi mà tế bào mặt trong túi tiết ra một hoạt dịch lỏng nhờn như dầu để làm khớp trơn tru trườn lên nhau khi co duỗi, cử động. Hoạt dịch cũng là nguồn cung cấp chất bổ dưỡng cho sụn vì sụn không có mạch máu.

Sụn khớp dễ thoái hóa
Cùng đảm nhiệm chức năng chung của hệ thống xương khớp, nâng đỡ và vận động, sụn khớp là nơi chịu tác động trực tiếp của nhiều áp lực: lực nén, lực ma sát. Vì vậy sụn rất dễ bị bào mòn cơ học, bên cạnh đó, các gốc tự do và các enzym (collagenase, phospholipase A2…) sinh ra trong quá trình vận động cũng là các tác nhân gây hủy hoại sụn khớp.

Khi trẻ, hệ thống xương và sụn khớp được cơ thể điều tiết mức độ cân bằng, nhưng khi có tuổi sự cân bằng mất dần quá trình tổng hợp bị suy giảm dẫn tới sự lão hóa và suy giảm chức năng trong khi tế bào sụn khớp (tế bào đảm nhiệm chức năng tổng hợp) lại không có khả năng tăng sinh; đặc biệt là sự thiếu hụt các nguyên liệu cần thiết cho quá trình tổng hợp (thường được bổ sung từ nguồn thực phẩm).

Do vậy, phần sụn khớp dần mất đi không được bù đắp lại dẫn tới biến đổi về cấu trúc: mỏng, dẹt, xơ hóa, mềm, yếu, thậm chí có thể mất đi để lộ phần xương dưới sụn. Từ đó dẫn tới suy giảm chức năng: giảm khả năng chịu lực, chịu ma sát, khiến khớp cử động đau.

Giải pháp phòng tránh cần bổ sung dưỡng chất cải thiện cấu trúc khớp bị thoái hóa
Glucosamine: Đây là chất người ta tìm thấy trong thành phần của sụn khớp do cơ thể tự sản sinh. Thoái hóa khớp là sự bào mòn các thành phần sụn khớp, gây tình trạng chết tế bào sụn.

Trước đây glucosamine được xếp vào nhóm thuốc bảo vệ sụn (gồm có glucosamine sulfate, Chondroitin sulfate và Diacerin) hay thuốc tác dụng chậm với các bệnh viêm khớp. Hiện nay nó được cơ quan Dược phẩm châu Âu (EMEA) chấp nhận xét vào danh mục thuốc giúp cải thiện cấu trúc trong bệnh viêm khớp.

Methylsulfonylmethan (MSM): Đây là một hoạt chất có chứa nhóm lưu huỳnh có tác dụng chống viêm được bổ sung nhiều trong bệnh khớp đặc biệt viêm khớp.

Trong các thí nghiệm sử dụng phóng xạ đánh dấu lưu huỳnh, đã chỉ ra rằng sau khi uống, MSM cung cấp lưu huỳnh cho các axit amin thiết yếu như methionine, cysteine, và các protein huyết thanh khác, cuối cùng cũng tìm thấy nó có trong collagen của da, khớp xương, máu và mạch máu.

MSM cũng được tích hợp vào keratin của tóc và móng. Các nghiên cứu trên động vật đã chỉ ra rằng các khớp bị ảnh hưởng bởi viêm xương khớp có nồng độ lưu huỳnh thấp hơn, và những con chuột bị viêm khớp được bổ sung MSM sụn khớp ít bị phá hủy hơn.

Trong một thử nghiệm ở những người bị viêm xương khớp, kinh nghiệm cho thấy người tham gia nghiên cứu được bổ sung MSM có sự giảm đau rõ rệt đáng kể hơn so với người không dùng. MSM cũng được biết đến là rất an toàn và không độc hại.

Chondroitin: là chất được tự nhiên được sản sinh trong cơ thể. Các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã tìm ra chondrointin có vai trò trong việc quyết định tính đàn hồi và co giãn của các màng và chất lỏng.

Một nghiên cứu gần đây của các nhà khoa hoc Belgium cho biết chondroitin có tác dụng ảnh hưởng lớn tới tế bào cartilage. Glucosamin và chondroitin là hai thành phần chính tham gia quá trình xây dựng cấu trúc khớp, chúng có chức năng ức chế và kìm hãm hoạt động của các tác nhân gây ra quá trình hủy hoại khớp.

Việc bổ sung hai dưỡng chất này là đặc biệt quan trọng cho bộ khung xương của chúng ta, nếu có điều kiện ta nên sử dụng từ trẻ bởi vì xây dựng, phục hồi và tái tạo sụn khớp là một quá trình, được thực hiện trong thời gian dài.


Triệu chứng của bệnh thoái hoá khớp gối



  • Người bị bệnh thoái hoá khớp gối thường có cảm giác đau vùng khớp gối, lúc đầu đau nhẹ nhàng, đau chủ yếu về đêm.
  • Đôi khi cảm giác cứng khớp gối, nhất là sáng sớm lúc vừa ngủ dậy, sau một lúc đi lại nghỉ ngơi thấy đỡ đau hơn, thấy dễ chịu hơn.
  • Đau quanh khớp gối, đôi khi chỉ một vài điểm, đau tăng hơn khi đi lên cầu thang hoặc khi ngồi xổm xuống.
  • Có khi khớp gối bị sưng lên, chứa nhiều dịch bên trong mà nhiều người gọi là tràn dịch khớp. Nếu chọc hút thì đau sẽ giảm xuống nhưng mấy ngày sau khớp sưng trở lại.
  • Những trường hợp nặng khớp gối bị biến dạng vẹo vào trong, mà nhiều người gọi là chân vòng kiềng.
  • Người bệnh đi đứng rất đau, phải dùng khung hoặc nạng hổ trợ. Gập duỗi gối bị hạn chế.


Chữa thoái hóa khớp gối bằng vật lý trị liệu

Điều trị vật lý trị liệu không chỉ giảm đau, giảm phù nề, tăng lực cơ, tăng tầm vận động khớp gối mà còn phục hồi các chức năng sinh hoạt hằng ngày của người bệnh.

  • Giảm đau, tăng tuần hoàn: chiếu đèn hồng ngoại, chườm nóng, chiếu thấu nhiệt vi sóng, điều trị bằng các dòng điện giảm đau (dòng Ten, dòng giao thoa…), sóng siêu âm giảm đau, kháng viêm, làm mềm tổ chức tổn thương xơ sẹo trong sâu, hướng dẫn sử dụng băng thun hoặc bó gối để cố định khớp gối khi đi lại, lên xuống cầu thang.
  • Huấn luyện cơ, tập mạnh các nhóm cơ gập duỗi khớp gối, các nhóm cơ gập duỗi dang áp khớp hông để hỗ trợ khớp gối tùy vào lực cơ người bệnh, gia tăng tầm vận động khớp gối, độ di động xương bánh chè: kỹ thuật P.N.F, tập đề kháng bằng tay, bằng tạ, dây thun co giãn, tập di động xương bánh chè, tập chịu sức, lên xuống cầu thang.
  • Với người bị thoái hóa khớp gối thì việc giảm cân, thay đổi lối sống như tránh ngồi xổm, tránh ngồi xếp bằng, hạn chế leo cầu thang hay leo dốc, hạn chế khiêng vác nặng là chuyện cần làm suốt đời. Có thể mang nẹp gối trong giai đoạn đang bị đau, nhưng sau đó cần phải tập cơ tứ đầu để có một khớp gối vững khi đi đứng, vì khi bị đau gối bao giờ cơ tứ đầu đùi cũng bị teo nhỏ.


Điều trị thoái hoá khớp gối bằng « thuốc » hay « chất nhờn » 

Thoái hóa khớp gối là một vị trí thường gặp nhất của bệnh thoái hóa khớp. Trong những đợt cấp của bệnh, có thể dùng các thuốc chống viêm không steroid, thuốc giảm đau đơn thuần, nhưng các thuốc này có nhiều tác dụng phụ trên đường tiêu hóa như loét dạ dày, xuất huyết tiêu hóa.

Một số thuốc chống viêm không steroid như indometacin về lâu dài lại có tác dụng có hại lên sụn khớp, làm trầm trọng thêm quá trình thoái hoá khớp (THK). Biện pháp cuối cùng là phải phẫu thuật thay khớp giả, rất tốn kém. Để khắc phục những nhược điểm này, hiện nay, biện pháp sử dụng chất nhờn (như acid hyaluronic hay dẫn xuất của nó) đã được ứng dụng rộng rãi vì tính an toàn và hiệu quả kéo dài.


Acid hyaluronic (AH) và thoái hóa khớp (THK)
Bình thường khớp gối chứa khoảng 2ml dịch khớp. Acid hyaluronic (AH) là một polysacharid có trong thành phần dịch khớp, với hàm lượng từ 2,5 - 4,0mg/ml. Nó bôi trơn mô mềm và phủ trên bề mặt sụn khớp và được tổng hợp bởi tế bào sụn. AH có nhiệm vụ đệm giảm xóc, bôi trơn và bảo vệ khớp. Nó có các tính chất nhớt và đàn hồi tùy thuộc vào lực tác động.

Nếu lực tác động lên mạnh, nó có tính chất đàn hồi, còn nếu lực tác động nhẹ thì nó như là dầu bôi trơn. Khi khớp bị thoái hóa, số lượng acid hyaluronic và chất lượng chất này trong dịch khớp bị giảm. Ở bệnh nhân THK gối, lượng acid  hyaluronic chỉ còn một nửa đến hai phần ba so với bình thường, do đó có hiện tượng dịch khớp giảm độ nhớt, mất khả năng bảo vệ sụn khớp, dẫn đến tiến triển huỷ hoại khớp.


Tác dụng điều trị của Acid hyaluronic (AH) trong thoái hóa khớp (THK)
Sự bổ sung AH trong thoái hoá khớp dẫn đến tăng kéo dài nồng độ và trọng lượng phân tử của AH nội sinh, làm cải thiện đáng kể chức năng khớp, giảm đau và tác dụng này có thể kéo dài hàng tháng. Thuốc có tác dụng giảm đau do khi tiêm vào trong khớp, nó làm giảm sản sinh các hóa chất gây viêm trong dịch khớp (PE G2, bradykinin), ức chế cảm thụ đau ở bệnh nhân THK.
AH có tác dụng kháng viêm do ngăn chặn tác dụng của cytokyne và ngăn chặn sinh tổng hợp PGE2. Tuy chỉ lưu trong dịch khớp 7 ngày nhưng duy trì tác dụng trong 6 tháng do kích thích sản xuất AH nội sinh. Các thử nghiệm trên lâm sàng đã chứng tỏ, ở người THK, việc bổ sung acid hyaluronic nội khớp có tác dụng giảm đau tốt hơn giả dược.
Thuốc đạt hiệu quả tương tự khi tiêm corticoid nội khớp song tác dụng bền vững hơn. Trong thí nghiệm trên động vật, tiêm AH còn có tác dụng bảo vệ và sửa chữa lại các tế bào sụn. AH ức chế thoái hoá sụn khớp do gia tăng hoạt tính của men TIMP (tisue inhibitor metalloprotease), kết khối các proteoglycan và tăng sinh tổng hợp của tế bào sụn khớp. Thuốc có hiệu quả tác dụng rõ rệt đối với bệnh nhân THK trên nhiều mặt, đặc biệt là cải thiện chức năng khớp.


Những trường hợp thoái hóa khớp (THK) nào được sử dụng Acid hyaluronic (AH)?
Liệu pháp tiêm sodium hyaluronate vào khớp gối có tác dụng trong điều trị THK gối từ mức độ từ trung bình đến nặng vừa. Nó có ích lợi đặc biệt đối với những bệnh nhân không đáp ứng với điều trị thông thường, không dung nạp được thuốc đặc biệt là thuốc chống viêm không steroid, cũng như  giúp trì hoãn thời gian thực hiện phẫu thuật thay khớp vốn khó khăn và tốn kém.
Có nhiều loại thuốc chứa AH. Thường là hộp 5 ống chứa 2- 2,5ml AH, AH tiêm nội khớp gối 1 ống/tuần trong 5 tuần liên tục. Khi tiêm nội khớp AH cần đảm bảo vô khuẩn khi tiến hành thủ thuật. Khi đã bóc hộp bơm tiêm ra rồi phải tiêm ngay. Nếu khớp có dịch phải hút ra rồi mới tiêm. Thuốc chỉ có hiệu quả khi tiêm hết 3 lần (synvic) hoặc 5 tuần (hyalgan). Thuốc có độ dung nạp khá tốt.
Trong một số ít trường hợp chỉ gặp đau nơi tiêm, phản ứng viêm tại chỗ, đau cơ, đau khớp, cảm giác mệt mỏi. Các triệu chứng này chỉ thoáng qua, sau 2-3 ngày là biến mất và thường chỉ gặp trong lần tiêm đầu tiên.

Mục đích chính của điều trị khớp gối là giảm đau. Cho tới nay, chưa có một phương pháp điều trị nào cho phép tái sinh lại sụn khớp đã hỏng: Những thuốc hiện đang có đều chưa có những bằng chứng chứng tỏ  tính hiệu quả của nó. Ghép sụn khớp vẫn còn trong giai đoạn thực nghiệm.

Khởi đầu bao giờ cũng điều trị bằng thuốc. Thất bại trong điều trị này cùng với dấu hiệu đau vẫn tiếp tục dai dẳng và tăng nặng lên, xuất hiện thêm  những thay đổi về hình thái của chi dưới lúc đó  mới cần có can thiệp ngoại khoa.


Điều trị ngoại khoa

Có hai khả năng của điều trị ngoại khoa:
  • Đục xương sửa trục của chi dưới để lấy lại cân bằng và phân phối lại khả năng chịu lực cho khớp gối.
  • Thay khớp gối với mục đích thay sụn khớp đã bị hỏng.

Đục xương sửa trục (Ostéotomies du genou)

Vì sao phải đục sửa trục xương ?
Mục đích của đục xương sửa trục là để điều trị thoái hoá khớp gối một bên. Trường hợp này sụn khớp bị mòn chỉ xảy ra ở một bên, (ở bên trong thường gặp hơn bên ngoài). Đục chỉnh trục là lấy bỏ hay thêm vào một mảnh xương hình chêm để chỉnh lại trục của chi dưới cho thẳng, nhằm lấy lại cân bằng lực, chuyển trọng tâm lực tỳ lên gối sang bên mặt khớp lành, giảm mức độ chịu tải cho mặt khớp đã thoái hoá nên làm chậm lại quá trình thoái khớp. Đục xương chỉnh trục không làm thay đổi được quá trình thoái hoá, nó vẫn tồn tại thoái hoá ở trên khớp, nhưng nó có hai tác dụng :
  • Làm giảm đau
  • Làm chậm lại thoái hoá cho khớp đã hỏng (khe khớp đã bị hẹp), điều này rất quan trọng ở người trẻ tuổi.
Nếu không được điều trị, thoái hoá gối một bên có nguy cơ nặng thêm, và tiến triển tới mức không thể cứu vãn được.

Lấy thoái hoá bên trong khớp làm ví dụ: do thoái hoá nên sụn khớp ở bên trong bị mỏng đi. Cẳng chân vẹo trong (varus) nên chuyển dần trọng tâm của gối vào bên trong (bên tổn thương). Vùng bệnh càng ngày càng phải chịu đựng nhiều sức ép của cơ thể, trong khi đó phần bên ngoài rất khỏe mạnh lại làm việc ít hơn. Thực sự muốn cắt vòng xoắn này chỉ còn cách là đục xương chỉnh lại trục của chi.

Kỹ thuật đục xương sửa trục


Đục chỉnh trục kiểu khép: là đục vào chỗ gồ của xương, sau đó lấy bỏ đi mảnh xương hình chêm, rồi nâng phần xương còn lại lên, dựng lại trục chi cho thẳng, sau đó cố định lại bằng các phương tiện kết hợp xương.


Đục xương kiểu mở thì ngược lại, người ta cưa xương làm đôi, sau đó lấy một miếng xương ghép, thường lấy ở xương chậu, có hình chêm rồi chèn vào giữa đường cắt xương để nâng phần mâm chày lên, chỉnh lại trục chi cho thẳng.

Đục xương chỉnh trục bắt buộc phải làm thật chuẩn,  kết hợp xương ở tại vị trí đục xương  bằng các phương tiện kết xương chắc chắn như : vis, plaque vis, agraffe,...


Có hai kiểu đục xương (có thể làm ở xương đùi, có thể làm ở xương chày) tuỳ vào biến dạng trục mà chỉnh. :
  • Đục xương vẹo ra ngoài (valgisation) để chỉnh  gối vẹo trong (genu varum)
  • Đục xương vẹo vào trong (varisation) để chỉnh gối vẹo ngoài (genu valgum).
Hậu phẫu và kết quả
Sau mổ không cần phải bất động (sử dụng đinh nẹp một khối - rất vững chắc). Luyện tập có thể tiến hành sớm. Mổ thường rất đơn giản : chỉ cần đo chính xác phần xương định cắt, sau đó tiến hành mọi thủ thuật đều ở bên ngoài khớp.

Cần phải chờ cho liền xương, thì chân mới vững nên phải sử dụng nạng. Thời gian tập đi lại và tỳ đè tuỳ thuộc vào đục chỉnh trục ở xương nào (đùi hay chày)  kỹ thuật (mở hay khép), cố định xương kiểu gì, có thể cho phép tỳ ngay, hay cũng có thể phải chậm lại 2 đến 3 tháng.

Can thiệp này cho phép giảm đau ngay và ngừng quá trình làm nặng thêm của thoái hoá khớp . Nó không làm cho sụn bớt hỏng , không làm giảm được thoái hoá. Sụn khớp vẫn có nguy cơ bị phá huỷ và vẫn còn có khả năng làm cho khớp thoái hoá tiếp sau này. Nhưng thời gian để thoái hoá toàn bộ sẽ kéo dài hơn, như thế thay khớp sẽ chờ được đến thời điểm tốt nhất.

Chỉ định đục xương sửa trục
Chỉ định đục xương chỉnh trục cần có sự tham gia của nhiều yếu tố :
  • Mức độ đau trầm trọng và biến dạng của chi dưới
  • Tuổi: đục xương chỉnh trục hay làm với người trẻ tuổi
  • Trên phim chụp điện có những yếu tố đảm bảo cho thành công của phẫu thuật

Thay khớp gối (Prothèse du genou)

Sau một thời gian dài với sự phát triển  đáng kinh ngạc, ngày nay thay khớp gối cho những người cao tuổi đã đạt được kết quả rất tốt, ngang với việc thay khớp háng. Khớp gối nhân tạo không phải là bản lề trong khớp. Nó chỉ thay thế các  phần bị hỏng của sụn khớp  và nó bảo tồn hoàn toàn các cấu trúc giải phẫu khác của gối, đặc biệt là các dây chằng, cũng chính vì thế không chỉ có một loại khớp gối duy nhất mà còn có rất nhiều loại khớp khác nhau phù hợp với từng thương tổn của gối. 


Các hiểu biết về khớp gối nhân tạo 
Khớp gối nhân tạo bao gồm các thành phần khác nhau, chúng liên hệ với nhau trong khớp gối. 

Khớp gối nhân tạo đơn (prothèses unicompartimentales) nó thay thế cho khớp đùi chày trong hoặc ngoài, chỉ thay thế phần sụn đã hỏng, không can thiệp tới dây chằng, không can thiệp vào khoang khớp còn tốt. Nó chỉ định cho những thương tổn thoái hoá, hay hoại tử giới hạn trong một khoang khớp. Sử dụng trên 20 năm nay, kết quả cho thấy rất ít trường hợp phải thay lại.

Khớp gối nhân tạo toàn bộ trượt (prothèses totales à glissement), điểm đặc biệt của nó là có một đĩa mâm chày di động nên tôn trọng sinh lý của khớp gối và hệ thống  dây chằng gối, vì thay thế hoàn toàn phần sụn khớp, nên chỉ định cho trường hợp thoái hoá toàn bộ trên diện rộng, cũng như trong các trường hợp viêm khớp dạng thấp.

Còn có loại khớp nhân tạo có bản lề (prothèses charnières), nó thay thế hoàn toàn cho khớp gối. Nhưng rất hiếm sử dụng, nó chỉ dùng trong trường hợp cấu trúc khớp bị phá huỷ nặng nề, phá huỷ toàn bộ hệ thống dây chằng, cũng như dùng để thay lại khớp gối.

Kết quả của thay khớp gối, cơ bản là mất hẳn triệu chứng đau và đi lại được, không chỉ dừng lại ở kết quả đó, ngày nay chúng còn đạt được chất lượng như là khớp háng nhân tạo. Ngay sau khi thay không cần bất động và có thể  đứng và tập đi rất sớm.

Đau đó là một yếu tố chính trong việc chỉ định mổ, đồng thời chỉ định mổ phải do bệnh nhân tự quyết định lựa chọn cho mình có thay khớp nhân tạo hay không.


Biến chứng của khớp gối nhân tạo

Tất cả các can thiệp phẫu thuật gối đều cần tính tới nguy cơ biến chứng. Thậm chí cả những  biến chứng không phải là đặc trưng cho loại phẫu thuật này : biến chứng gây mê, biến chứng do tuổi già, và biến chứng do các bệnh phối hợp... Cần phải làm khám nghiệm tổng thể trước mổ để biết và đánh giá các nguy cơ này nhằm hạn chế nhiều nhất khả năng xấu có thể xảy ra.

Bác sĩ chuyên môn chỉ kể ra các biến chứng liên quan tới phẫu thuật này. Nó có thể đến sớm trong quá trình mổ, có thể đến sau một vài ngày sau mổ, cũng có thể muộn hơn nữa một vài tháng hay một vài năm.

Các biến chứng trong phẫu thuật
Nó rất hiếm, ví dụ như thương tổn động mạch ở chi dưới hay thần kinh  với những trường hợp mổ khó. Cũng có thể gẫy xương đùi, xương chày, hay bong chỗ bám của hệ thống gân duỗi (gân bánh chè) hay đứt gân cơ tứ đầu,...

Biến chứng sớm

Nhiễm trùng
Trội hơn cả là nhiễm trùng. Nhiễm trùng là nguy cơ của tất cả các phẫu thuật. Ở gối biến chứng nhiễm trùng càng nặng hơn, nhưng cũng nhấn mạnh rằng biến chứng này rất hiếm gặp. Theo dõi để phát hiện sớm nhiễm trùng, xảy ra sau phẫu thuật vài  tuần đầu, thấy xuất hiện dấu hiệu đau, sốt , gối sưng to, chảy dịch ở vết mổ,... . Cần phải cấy vi khuẩn và làm kháng sinh đồ để điều trị kháng sinh cho phù hợp, không phải chỉ có thế là khỏi bệnh, cần phải theo dõi diễn biến nhiễm trùng, thực tế phải mở lại gối để rửa sạch. Với biện pháp điều trị tích cực như trên thông thường  sẽ khỏi được nhiễm trùng.

Các biến chứng khác :
  • Tắc mạch : Là hình thành các cục máu đông ở trong tĩnh mạch, nó có thể giải quyết được bằng điều trị chống đông dự phòng. Biến chứng này có thể đưa lại những nguy cơ rất nặng: nhồi máu phổi.
  • Máu tụ trong gối: điều trị chống đông là cần thiết tuy nhiên đó lại là điều kiện thuận lợi cho biến chứng máu tụ trong gối. Cần phải mổ lại để lấy khối máu tụ này.
  • Hội chứng thiểu dưỡng thần kinh cơ (syndrome neuro-algo-dystrophique) rất hiếm xảy ra: nó có đặc tính làm cứng gối sớm, phối hợp với đau và phù nề. Cần phải điều trị bằng thuốc tương đối lâu .
  • Cứng gối: Cứng khớp gối có thể thấy sau những can thiệp vào khớp gối, đặc biệt sau khi thay khớp, nguyên nhân là do dính trong khớp, là sự tổ hợp của nhiều yếu tố: đau sau phẫu thuật gây khó khăn trong luyện tập, phản viêm mạnh ở khớp gối, sau biến chứng máu tụ trong khớp,...Vận động cưỡng bức khớp gối " bẻ khớp" dưới gây mê toàn thân cải thiện đáng kể biên độ vận động cũng như giảm đau cho bệnh nhân. Đây là một thao tác nhỏ, chỉ cần gấp chân của bệnh nhân đủ để làm đứt các thành phần dính ở trong khớp. Chỉ định này nên làm sớm sau phẫu thuật, không nên để quá lâu, các dây chằng dính chặt lại sẽ rất khó thực hiện.

Biến chứng thì hai (thứ phát)
Biểu hiện bằng tình trạng  nhiễm trùng gối muộn , tình trạng cứng khớp hay các biến chứng cơ học của khớp nhân tạo.

Nhiễm trùng muộn hiếm gặp, nguyên nhân là do sự di nhập của các vi khuẩn từ nơi khác tới ( Abces răng, nhiễm trùng tiết niệu, nhiễm khuẩn ruột,...) Điều này có nghĩa là cần phải điều trị nghiêm túc với tất cả các nhiễm trùng ở trên người bệnh có mang khớp nhân tạo. Khi khám bệnh với bác sĩ nội khoa cần trình bày rõ là mình đã được thay khớp. Điều trị loại nhiễm khuẩn muộn này thông thường là phải thay lại khớp mới. Trong trường hợp thất bại khi thay lại, chỉ còn cách làm cứng khớp.

Cứng khớp Sau mổ thời gian dài không được phát hiện để "bẻ " khớp dưới gây mê toàn thân, khớp gối trở nên rất cứng, gây hạn chế chức năng nhiều. Khi này cần phải chỉ định mổ để gỡ dính gối (can thiệp này nhằm cắt bỏ các thành phần dính trong gối )

Các biến chứng cơ học gây ra do khớp nhân tạo, đôi khi phải thay lại khớp mới.
  • Không vững có thể xảy ra ở khớp gối với mâm chày di động, hệ thống dây chằng bị trùng trong khi chất lượng còn tốt, biểu hiện: không vững bánh chè có khi bị trật ra  ngoài, không vững giữa xương đùi và xương chày.
  • Mòn khớp. Đây là một nguy cơ không mong muốn của tất cả  các loại khớp nhân tạo. Sử dụng khớp với  mâm chày di động sẽ giảm được nguy cơ này. Nguy cơ của biến chứng này làm giảm tuổi thọ của khớp rất nhiều.
  • Lỏng xi măng xuất hiện các vận động bất thường giữa khớp nhân tạo và xương ở vị trí tiếp xúc nhau, đó cũng là nguyên nhân gây đau. Biến chứng này chỉ xảy ra với các khớp có dùng xi măng, còn với khớp không dùng xi măng thì xương sẽ cắn chặt vào bề mặt bên ngoài của khớp.
  • Gẫy xương chấn thương có thể là nguyên nhân của gẫy xương đùi, xương chày, hay bánh chè, tiếp xúc trực tiếp với khớp thay thế, cũng có khi vỡ cả khớp nhân tạo. Đôi khi  không do chấn thương , khớp vẫn tự vỡ do "mệt mỏi" của kim loại (fractures « de fatigue»).
Liệt kê các biến chứng trên đây giúp ta khỏi  quên các biến chứng của phẫu thuật thay khớp gối (cho dù ít gặp)


Chỉ định : Khi nào thì phải mổ thay khớp?

Câu trả lời đơn giản là : Khi nào quá đau !

Khi điều trị bằng thuốc không hiệu quả phải dừng lại thì khi đó phẫu thuật mới được đưa ra. Thông thường, khi đau xuất hiện thì phải điều trị thuốc. Mục đích của phương pháp là giảm đau, mà không có bất cứ một tác động nào trên sụn khớp. Nên không có bất cứ một tác động lên sự thoái hoá khớp cũng như không cản trở được tiến trình của thoái hoá khớp.

Đau là một cái cớ chính để chỉ định mổ. Chỉ định mổ mang tính cá nhân, không phải là bác sĩ nội khoa, không phải là phẫu thuật viên, cũng không phải gia đình hay người xung quanh mà chính là do dấu hiệu đau của bệnh nhân quyết định, có nghĩa là cần có sự trao đổi giữa người bệnh và bác sĩ, người thầy thuốc nói cho bệnh nhân những thông tin cần thiết: như tiến bộ của thay khớp, nhưng lợi ích sau khi thay, đồng thời cũng cần chỉ rõ những điểm bất lợi , nhưng nguy cơ biến chứng thậm chí rất nặng với tuổi già, và với bệnh mãn tính của bệnh nhân. Để rồi bệnh nhân cân nhắc và chỉ định mổ sẽ do chính bệnh nhân quyết định.

Cần phải xem lại chỉ định của mình, không được có chỉ định thay khớp "dự phòng", ví dụ: không được chỉ định  mổ vì sợ phải mổ khi bệnh nhân già hơn. Càng không đựơc chỉ định mổ khi thoái hoá còn chưa quá nặng, về chức năng nó vẫn còn đảm đương được. Nhắc lại là khớp nhân tạo chỉ thay thế cho sụn khớp đã hỏng nặng. Như thế can thiệp có thể phải chờ thêm một thời gian để có điều kiện tốt hơn, và sụn khớp hỏng nặng hơn. Tuy nhiên, không được để khớp gối đến tình trạng cực nặng, biến dạng quá nhiều, như thế rất khó khăn cho phẫu thuật: nếu chưa có các nguy cơ này thì cần phải theo dõi trên phim (radio) thường xuyên để phát hiện và chỉ định mổ cho kịp thời.

Tuổi là một yếu tố quan trọng trong chỉ định mổ. Chúng ta đã biết  tuổi thọ của khớp nhân tạo không phải là vĩnh viễn do nguy cơ mòn khớp cũng như lỏng xi măng. Thay khớp cho những người trẻ tuổi có nhiều nguy cơ hỏng khớp nhân tạo sớm hoạt động nhiều và thời gian sống còn quá dài. Chính lý do này các phẫu thuật viên muốn tránh không phải thay lại khớp gối lần hai nên khuyên không nên mổ thay khớp ở người trẻ.

Người ta vẫn muốn thay khớp tại thời điểm muộn nhất nếu có thể, thực tế là không thể tìm ra được một chỉ số về tuổi, về mức độ đau, những biến dạng khớp, hay các bệnh khác về khớp để chỉ định mổ. Với người trẻ đục xương sửa trục vẫn là chỉ định tốt hơn so với thay khớp gối.

Với sự hiểu biết về khớp nhân tạo, có thể đưa ra chỉ định ngoại khoa tuỳ thuộc tuổi, vào mức độ đau và sự cản trở chức năng trong cuộc sống hàng ngày. Không có một lý do nào để chỉ định mổ thay khớp gối sớm khi chưa cần thiết. Những kết quả thu thập được trong năm 2001,  nó cũng không hoàn toàn được tốt, đặc biệt với người già, vậy không nên quá lợi dụng thay khớp gối khi mức độ đau và biến dạng chưa quá trầm trọng.


Các lời khuyên trong điều trị thoái hóa và đau khớp gối

Mặc dù bất cứ khớp nào trong cơ thể đều có nguy cơ thoái hóa khớp, nhưng khớp gối lại thường bị nhất. Đau khớp gối có thể ảnh hưởng đến mọi hoạt động thường ngày như đi bộ hoặc đi lên cầu thang, và điều quan trọng là tìm ra cách để xử trí nó. Các phác đồ điều trị hiện tại khuyến nghị cách tốt nhất để điều trị cơn đau khớp gối là phối hợp nhiều phương pháp tự điều trị.

1. Tập thể dục nhiều hơn
Có vẻ như hơi ngược đời khi khuyên bệnh nhân tập thể dục trong khi họ đang bị đau khớp gối, nhưng các chuyên gia khuyến nghị việc tập thể dục như là bước đầu tiên trong điều trị cơn đau. Có 3 loại thể dục có thể giúp bệnh nhân:
  • Thể dục giúp tăng cường sức mạnh: các bài tập thể dục tăng cường sức mạnh có thể giúp cho các cơ xung quanh khớp gối trở nên mạnh hơn, có tác dụng chống đỡ tốt và bảo vệ khớp gối.
  • Sự linh hoạt: Loại thể dục này giúp tăng cường tính cử động của khớp. Đây là những tài tập thể dục đặc hiệu có thể giúp tăng cường sự linh hoạt, và cũng nên thử các loại hình thể dục như là thái cực quyền hoặc yoga để giúp cơ thể trở nên dẻo dai hơn.
  • Aerobic. Để giúp tăng cường sức khỏe tổng quát, nên thử các môn thể dục aerobic. Nhưng cẩn thận không được tập các môn thể dục gây tổn thương nhiều hơn cho khớp gối như chạy chẳng hạn. Thay vào đó, thử các môn thể dục nhẹ nhàng hơn như đi bộ hoặc đi bơi. Thậm chí lúc đi bộ cũng nên tránh đi lên hoặc xuống các đồi dốc vì điều này làm tăng thêm các áp lực lên khớp gối, chỉ nên đi bộ trên các khu vực bằng phẳng. Trước khi bắt đầu bất cứ bài tập thể dục nào, hãy tư vấn trước với bác sĩ, vì họ có thể giúp bạn thiết lập một chương trình tập thể dục phù hợp cho chính bạn.
2. Làm từng bước
Một điều quan trọng mà bạn cần nhận ra đó là bạn phải học cách làm từng bước các công việc hàng ngày, vì nếu không bạn sẽ có nguy cơ làm quá sức một việc gì đó và gây ra những tổn thương nhiều hơn cho khớp gối của bạn. Sẽ cần một thời gian và luyện tập để lấy lại cân bằng giữa việc làm việc và để cho khớp bạn nghỉ ngơi đều đặn.

3. Giữ vóc dáng
Nếu thừa cân sẽ tạo thêm áp lực lên khớp gối. Các nghiên cứu cho thấy tình trạng thừa cân sẽ làm tăng nguy cơ thoái hóa khớp gối. Cụ thể hơn, cứ tăng kí lô trọng lượng cơ thể, bạn sẽ tăng nguy cơ thoái hóa khớp gối lên 40%. Điều ngược lại cũng đúng: cứ giảm kí lô trọng lượng cơ thể, bạn sẽ giảm được 40% nguy cơ thoái hóa khớp gối. Các phác đồ điều trị đều khuyến cáo việc giảm cân như là một phương pháp chính trong điều trị đau khớp gối.

4. Kiểm soát cơn đau
Bên cạnh tập thể dục và giảm cân, việc sử dụng các thuốc giảm đau cũng có thể giúp kiểm soát cơn đau. Các phác đồ điều trị trên thế giới đều khuyên dùng paracetamol như là thuốc giảm đau đầu tay trong điều trị đau do thoái hóa khớp. Paracetamol có thể sử dụng liều tối đa lên tới 4g/ngày để giúp kiểm soát cơn đau.
Các phương pháp điều trị khác bao gồm việc sử dụng thuốc giảm đau nhóm NSAID đường uống và đường ngoài da bôi trực tiếp lên vùng khớp gối bị đau.
Chỉ sử dụng thuốc giảm đau như hướng dẫn và theo đúng chỉ định ghi trên tờ hướng dẫn vào mọi lúc.

5. Mang giày phù hợp
Việc lựa chọn một đôi giày phù hợp có thể tạo nên sự khác biệt thật sự. Các chuyên gia khuyên sử dụng các đôi giày và đế lót giày có khả năng chống shock. Chọn những đôi giày đế thấp và có dây buộc và có khả năng chống đỡ gót chân và tránh sử dụng giày cao gót và giày sandal.

6. Thử các liệu pháp nhiệt nóng và lạnh
Đắp túi nóng hoặc cao dán hoặc nước đá vào chỗ đầu gối cũng được khuyến nghị là các biện pháp hỗ trợ để giảm đau khớp gối bên cạnh các phương pháp khác.

7. Hỗ trợ đầu gối
Sử dụng nẹp gối được khuyến cáo là một biện pháp bổ sung để hỗ trợ khớp gối. Nó có thể giúp giảm đau, làm cho khớp gối vững chắc hơn, và cũng làm giảm nguy cơ bị "lắc lư" khớp gối.

8. Sử dụng xung điện
Kích thích thần kinh bằng điện qua da (Transcutaneous electrical nerve stimulation (TENS)) cũng có thể được sử dụng. Các máy TENS hoạt động bằng cách truyền những xung điện nhỏ vào các dây thần kinh trên da, giúp chặn đứng các tín hiệu cảm giác đau.




vendredi 17 octobre 2014

SỨC KHOẺ : Táo bón và bệnh trĩ


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Táo bón lâu ngày là một trong nguyên nhân gây bệnh trĩ. Viêm đại tràng và táo bón lâu ngày là các nguyên nhân chủ yếu gây bệnh trĩ. Ngoài ra, những người làm việc nhiều ở tư thế đứng hoặc ngồi, ăn nhiều chất kích thích, ít chất xơ… cũng có nguy cơ cao mắc bệnh.

Táo bón

Táo bón là trạng thái đi tiêu phân khô cứng, buồn đi mà không đi được, phải rặn mạnh, thời gian đi tiêu lâu hoặc nhiều ngày mới đi tiêu, trong điều kiện ăn uống bình thường, người bệnh có thể dễ dàng nhận ra táo bón qua các biểu hiện như ít đi cầu, đau bụng, đau đầu và đặc biệt là khó nhọc khi đi nhà xí. Bệnh táo bón trên lâm sàng thấy rất nhiều, nhất là ở người già và người béo. Táo bón lâu ngày là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến bệnh trĩ.



Ở Việt Nam, những năm gần đây, tình trạng táo bón trong giới thanh niên, đặc biệt là những người làm việc nơi công sở đang ngày càng tăng mạnh, số người bị táo bón ngày càng lớn. Nguyên nhân chủ yếu do áp lực công việc nặng nề, tâm lý căng thẳng quá mức, cộng thêm ít vận động, thể dục thể thao và phải ngồi lâu trong văn phòng.


Triệu chứng

Triệu chứng chung của táo bón là khi quá 3 ngày chưa đại tiện hoặc đại tiện dưới 3 lần trong một tuần và có thể có từng cơn đau quặn bụng, phân rắn màu đen và hay von cục (dân dã gọi là cứt sắt), muốn đại tiện được thì phải rặn mạnh đến nỗi có lúc bật cả máu tươi, ở một số người có biểu hiện là khi đại tiện rồi mà vẫn cứ cảm giác vẫn còn phân trong ruột. Tuy chỉ là triệu chứng nhỏ không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống nhưng táo bón gây nhiều phiền toái cho bệnh nhân.


Nguyên nhân

Nguyên nhân có thể là triệu chứng khởi đầu của một bệnh lý thực thể nào đó tại đường tiêu hoá như bệnh của đại trường các bệnh toàn thân suy giáp trạng, tăng canxi máu, co thắt, nhu động giảm, phình đại trường... Bệnh ngoài đường ruột như ung thư gây chèn ép... hoặc bệnh toàn thân như chức năng tuyến giáp giảm, nhiễm độc chì, suy nhược cơ thể, một số bệnh lý thần kinh như bệnh Parkinson, thần kinh tâm thần bị ức chế như lo nghĩ, tức giận, buồn phiền… tập quán sinh hoạt thiếu điều độ... Hoặc có thể do rối loạn chức năng vận chuyển của ruột.


Do thói quen ăn uống không khoa học, chế độ ăn nhiều chất  đạm (thịt, cá nước ngọt, sữa, trứng...), ít chất xơ (trái cây, rau xanh và ngũ cốc), ít vận động, ăn uống không hợp lý (thiếu chất xơ, uống ít nước làm cho phân cứng, khó thải ra ngoài), stress, do uống thuốc tây ( thuốc ngủ, thuốc hạ huyết áp, thuốc chống trầm cảm, chống dị ứng, thuốc chữa dạ dày,…)

Lười đi cầu, nén hoặc nhịn việc đi cầu, do thói quen đi đại tiện không đều, bị mất ngủ, căng thẳng thần kinh, do gặp phải những vấn đề ở ruột, hoặc hút thuốc lá, uống quá nhiều trà và cà phê.

Đối với trẻ em, chứng táo bón ở trẻ trong độ tuổi đi học thường do chế độ ăn không đủ nước và chất xơ. Những trẻ ăn chế độ ăn đặc biệt với thức ăn nhanh – giàu chất béo (thịt rán, sữa trứng khuấy sẵn) và đường (kẹo, nước ngọt nhiều đường) có thể bị táo bón thường xuyên hơn.


Điều trị

Táo bón cần quyết tâm điều trị để tránh gây là phiền phức trong cuộc sống, đặc biệt chú trọng đến chế độ ăn uống và lối sống khoa học, thường xuyên vận động, tập thể dục. Đối với trẻ bị táo bón nên điều trị sớm, tránh gây biến chứng sau này. Điều trị táo bón trẻ em là một quá trình lâu dài, toàn diện, đòi hỏi sự kiên nhẫn của cha mẹ, sự phối hợp của gia đình với bác sĩ nhi khoa và bác sĩ dinh dưỡng.

Chế độ ăn uống

  • Nên ăn nhiều các thức ăn chứa nhiều chất xơ (xenlulose), như các loại rau và hoa quả tươi, các loại măng... Chất xơ không hòa tan (có trong rau cải, trái cây…) làm phân xốp, giảm rủi ro phát triển bệnh táo bón. Bổ sung nhiều rau, củ quả để tăng cường chất xơ do chất xơ trong thực phẩm làm khối lượng phân tăng lên đáng kể sẽ kích thích vận động đường ruột, lại có thể bảo lưu thủy phần, tránh phân quá khô.


4 loại rau củ chữa táo bón rất hiệu quả dưới đây:

  1. Củ cải
    Củ cải chia thành củ cải trắng, củ cải đỏ… có thể ăn sống hoặc chế biến thành món ăn. Củ cải tính ngọt, mát, vị cay, có công dụng giải độc, hoá đờm giải nhiệt… Lượng vitamin C trong củ cải gấp 10 lần lê, ngoài ra còn có tác dụng thông tiện, chống ung thư, chống vi khuẩn gây bệnh, ngăn ngừa sỏi mật, làm giảm cholesterol, giúp ngăn ngừa bệnh cao huyết áp. Mỗi ngày có thể ăn khoảng 250g để thông tiện.
  2. Cải thảo
    Cải thảo tính hàn, vị ngọt, có công dụng giải độc trừ nhiệt, thông tiện. Người miệng khô, táo bón, nước tiểu vàng đều có thể ăn cải thảo. Trong cải thảo giàu chất xơ, hàm lượng vitamin A, B, C…phong phú.
  3.  Bầu
    Quả bầu chứa 94% trở lên là nước, là loại quả nhiệt lượng thấp, giàu vitamin A, hàm lượng kali, magiê cao, hàm lượng chất xơ phong phú, cũng có công dụng thông tiện hiệu quả.
  4.  Giá
    Chủ yếu chỉ các loại giá đỗ xanh, giá đậu tương với hàm lượng dinh dưỡng cao, giàu chất xơ, vitamin C, nhiệt lượng và chất béo thấp có tác dụng thông tiện lợi tiểu. Ăn giá đỗ thường xuyên còn có thể trị đờm, tăng cường chức năng cho não bộ.
Ngoài ra, để trị chứng táo bón cần điều chỉnh chế độ ăn. Nên ăn nhiều các loại đậu và khoai có chứa nhiều chất xơ; ăn các loại hoa quả tươi như chuối tiêu, táo, lê, dâu tây…. Các thực phẩm cũng có công dụng thông tiện khác như ngân nhĩ, mật ong, hồ đào, rong biển….


  • Nên ăn nho khô là loại thực phẩm chứa nhiều chất xơ nên là món ăn công hiệu cho người bị táo bón. Nho khô có thể chữa táo bón cho trẻ em bằng phương pháp ép lấy nước cốt và cho trẻ uống tốt nhất vào buổi sáng để đi tiêu dễ dàng.

Nếu xét về giá trị dinh dưỡng thì nho khô là món ăn hữu ích cho sức khỏe vì rất ít chất béo nhưng lại sinh nhiều năng lượng, dễ bảo quản, nhờ đó là món ăn bỏ túi cho người phải lao tâm lao lực. Hơn thế nữa, nho khô là món ăn vặt như thuốc cho người bị cao huyết áp, nhờ tác dụng vừa lợi tiểu vừa bổ sung khoáng tố kalium.

Kết quả một công trình nghiên cứu ở Mỹ cho thấy huyết áp của người hâm mộ nho khô ổn định hơn nhóm không khoái món này. Một số nhà điều trị thậm chí khuyến khích người từ độ tuổi 40 trở lên nên thường ăn nho khô để cầm chân huyết áp.


Nho khô chứa nhiều chất xơ nên là món ăn bầu bạn của người khổ vì táo bón và bệnh trĩ. Cũng nhờ tác dụng kéo chất béo qua đường ruột nên nho khô gián tiếp hạ cholesterol.

Nhiều thầy thuốc vì thế đã không ngần ngại xếp nho khô vào nhóm thực phẩm thích hợp cho người bị bệnh mạch vành. Theo kết quả một công trình nghiên cứu ở Mỹ, sau một tháng áp dụng, lượng LDL trong máu giảm đáng kể trên số bệnh nhân có 80 - 100g nho khô mỗi ngày trong khẩu phần.

Nho khô còn là nguồn giàu chất sắt. Người thiếu máu, đối tượng vừa qua cơn chấn thương xuất huyết, phụ nữ  mang thai, thiếu nữ hay bị rong kinh... nên chọn nho khô để bổ sung chất sắt cần thiết cho cấu trúc lành mạnh của huyết cầu thay vì trông cậy vào thịt, gan rồi khó tránh trục trặc với mỡ máu.


  • Nên uống đủ nước uống 2 lít/ngày, giúp cho làm mềm phân.


  • Ăn một số loại thức ăn có tác dụng nhuận tràng như mật ong, vừng, bơ, sữa bò...

  • Khi đun nấu món ăn, có thể cho tăng một chút dầu ăn, như dầu đậu, dầu hạt cải, dầu vừng, dầu lạc...
  • Ăn một số thức ăn chứa vitamin nhóm B một cách thích hợp, như các loại đậu, lương thực thô, khoai lang, khoai tây, đu đủ..., để thúc đẩy nhu động ruột. Một số loại hoa quả khác như củ cải, cải thảo, bầu và giá đỗ cũng giúp trị táo bón. Ngoài ra quả mơ cũng giúp trị táo bón.
  • Kiêng các thức ăn loại kích thích như rượu mạnh, trà đặc, cà phê, hẹ, tỏi, ớt, ít ăn các thức ăn tanh mặn vị đậm.
  • Uống một cốc sữa ấm trước khi đi ngủ. Điều này giúp cho cơ thể sẽ dễ dàng bài tiết ra những chất cặn bã để tiết ra bên ngoài vào sáng hôm sau. Trong trường hợp bị táo bón nặng, hãy hoà thêm 2 thìa cà phê thầu dầu vào trong cốc sữa.
  • Uống 1 lít nước ấm và đi bộ khoảng vài phút ngay lập tức sau khi thức dậy vào buổi sáng. Mỗi ngày vào buổi sáng sớm khi tỉnh dậy, uống một cốc nước ấm lúc bụng đói.
  • Uống nước chanh pha lẫn với nước ấm từ 2 - 3 lần/ngày. Ngoài ra nên ăn những loại thực phẩm dễ tiêu hoá.
  • Ăn chuối tiêu một quả mỗi ngày ăn một lần.

  • Chỉ ăn khi đói, không nên ăn thành nhiều bữa và mỗi bữa ăn nên cách nhau 4 tiếng. Không nên ăn quá nhiều loại thức ăn trong một bữa ăn.
  • Nên hạn chế và tránh ăn những đồ ăn khô như đậu tương, lạc...

Chế độ sinh hoạt
  • Luyện tập đều đặn. Việc luyện tập chính là phương thuốc hữu hiệu giúp phòng ngừa và điều trị bệnh táo bón.
  • Ngủ đủ giấc. Thiếu ngủ cũng chính là một trong số những thủ phạm gây nên căn bệnh táo bón. Chính vì thế nếu không muốn bị chứng táo bón hoành hành mỗi ngày cần ngủ đủ giấc trong vòng khoảng 8 tiếng/ngày.
  • Cần chú ý đi đại tiện kịp thời, không nên nhịn lâu để đề phòng táo bón.

Dùng thuốc

Các thuốc điều trị táo bón được chia ra các loại sau:
  • Thuốc trị táo bón tạo khối (igol, metamucil),
  • Thuốc trị táo bón thẩm thấu (sorbitol, forlax, lactitol): chứa các muối vô cơ, đường. Khi uống vào, thuốc giữ nước trong lòng ruột giúp thải phân ra ngoài dễ dàng hơn.
  • Các thuốc làm mềm phân (docusat) giúp nước thấm vào khối phân, làm phân mềm và dễ di chuyển hơn
  • Các thuốc bôi trơn (norgalax, microlax) dùng bơm hậu môn.
  • Thuốc trị táo bón kích thích (bisacodyl, cascara), tác động trực tiếp lên thần kinh chức năng vận động bài tiết của ruột, gây co bóp các cơ thành ruột tạo nhu động ruột đẩy phân ra ngoài.
Tuy nhiên, không nên sử dụng bất kỳ một loại thuốc chữa táo bón nào kéo dài quá 8 - 10 ngày, các thuốc trên có nhiều tác dụng phụ, dùng lâu có thể gây biến chứng cho đường ruột, có hại cho gan, thận và đặc biệt nó không giải quyết được gốc rễ của bệnh.

Hiện nay có thể kết hợp phương pháp ăn uống và sử dụng các sản phẩm hỗ trợ để điều trị táo bón, đặc biệt cho bệnh nhân mắc táo bón mạn tính (mắc đi mắc lại nhiều lần): Người bệnh vẫn cần phải có chế độ ăn uống đảm bảo đủ nước và đủ chất xơ, tập luyện vận động hàng ngày. Ngoài ra, kết hợp sản phẩm hỗ trợ giúp cải thiện hệ vi sinh vật có lợi trong đường ruột, kích thích miễn dịch hệ tiêu hóa, các yếu tố khác nhằm ổn định hệ tiêu hóa, bên cạnh việc bổ sung các chất xơ tự nhiên - inulin. Đảm bảo các yếu tố trên thì hạn chế được khả năng mắc táo bón trở lại.


Bệnh Trĩ

Bệnh Trĩ, hay còn gọi là bệnh lòi dom theo dân gian, là bệnh được tạo thành do dãn quá mức các đám rối tĩnh mạch trĩ (hay sự phình tĩnh mạch) ở mô xung quanh hậu môn. Có hai loại trĩ là trĩ nội và trĩ ngoại. 
  • Trĩ nội chịu lực nén bên trong nên có chiều hướng sung huyết, chảy máu và đôi khi bị sa. 
  • Trĩ ngoại có thể có huyết khối phát triển rất đau. 
Là bệnh rất phổ biến, đứng hàng đầu trong các bệnh lý vùng hậu môn đến nhập viện. Bệnh nhân mắc bệnh trĩ thường đi khám và điều trị rất muộn sau nhiều năm, vì bệnh tuy có ảnh hưởng tới cuộc sống nhưng không nặng nề nên bệnh nhân thường bỏ qua và vì bệnh ở vùng kín đáo nên bệnh nhân thường ngại ngùng nhất là phụ nữ. Chỉ đến khi chảy máu nhiều hoặc bị sa búi trĩ thì bệnh đã ở cấp độ nặng, không thể dùng thuốc mà phải chỉ định phẫu thuật.


Dấu hiệu của bệnh

Bệnh trĩ là bệnh do sự căng dãn quá mức tại các tĩnh mạch ở trực tràng – hậu môn gây viêm sưng hoặc xuất huyết. Bệnh trĩ thường xảy ra ở người bị táo bón kinh niên, công việc ít đi lại, ở phụ nữ mang thai. Người mắc bệnh trĩ mới đầu chỉ có cảm giác ngứa rát đôi chút, lâu dần sẽ đi ngoài ra máu và đau rát nhiều hơn. Bệnh trĩ ngoại thường sớm được phát hiện và điều trị nhanh hơn, do người bệnh có thể sờ thấy khi trĩ ở mức độ nhẹ. Với bệnh trĩ nội, thường người bệnh chỉ nhận biết được khi bệnh đã ở giai đoạn nặng, búi trĩ sa hẳn bên ngoài hậu môn hoặc bị tổn thương dẫn đến xuất huyết nặng, viêm sưng, nhiễm trùng búi trĩ.


Phân loại

Bệnh trĩ được chia làm 2 loại: Trĩ nội và trĩ ngoại. Bệnh trĩ là sự phồng lớn của một hay nhiều tĩnh mạch thuộc hệ thống tĩnh mạch trĩ trên hoặc tĩnh mạch trĩ dưới hay cả hai gây nên trĩ nội, trĩ ngoại hay trĩ hỗn hợp. Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, kể cả trẻ em. Thực ra, trĩ nội và trĩ ngoại chỉ khác nhau về vị trí phát sinh búi trĩ. Với việc phân biệt hai loại trĩ này sẽ giúp ích cho quá trình thăm khám và điều trị căn bệnh này.


  • Nếu các xoang tĩnh mạch trĩ trên (trực tràng trên) phồng to, trĩ được hình thành ở trên đường lược được gọi là trĩ nội.
  • Nếu các xoang tĩnh mạch trĩ dưới (trực tràng dưới) phồng to, trĩ được hình thành ở dưới đường lược được gọi là trĩ ngoại.
  • Trĩ hỗn hợp tức là trên cùng một bệnh nhân xuất hiện cả trĩ nội và trĩ ngoại. Thông thường, khi diễn tiến lâu ngày, phần trĩ nội và phần trĩ ngoại sẽ liên kết với nhau, tạo thành trĩ hỗn hợp. Búi trĩ nội, khi đã sa tới độ 3, thường hiện diện dưới hình thái trĩ hỗn hợp.

Cấp độ bệnh
  • Bệnh trĩ ở cấp độ 1 & 2, người bệnh thường có các triệu chứng sau: Đau và chảy máu khi đại tiện, ngứa hậu môn, tiết dịch gây viêm da, ngứa và ướt viêm quanh hậu môn.
  • Bệnh trĩ ở cấp độ 3 & 4, búi trĩ bên trong (trĩ nội) bị sa quá mức gây nghẹt hay tắc mạch hay gây nứt, áp xe hậu môn, hoặc búi trĩ bên ngoài (trĩ ngoại) bị tổn thương nhiễm trùng gây lở loét, xuất huyết trầm trọng hay tạo thành những cục máu đông nằm trong búi trĩ, có nguy cơ gây biến chứng nguy hiểm và sinh ra các bệnh khác. Người bệnh có thể vừa mắc bệnh trĩ nội vừa mắc bệnh trĩ ngoại. Nếu không sớm điều trị, sẽ làm người bệnh ngày càng có cảm giác vướng víu, khó chịu, chảy máu và đau đớn nhiều hơn mỗi khi đại tiện.
Bệnh trĩ ở cấp độ nhẹ có thể tự chữa trị, nếu để chuyển sang giai đoạn nặng thì việc điều trị bệnh trĩ sẽ trở nên rất khó khăn, phải có sự can thiệp của phẫu thuật.


Liệu pháp

Liệu pháp đầu tiên chữa trĩ nội là dùng chế độ dinh dưỡng có nhiều xơ. Khi đại tiện tránh không được rặn, trĩ nặng và đã bị sa thường phải giải quyết bằng phẫu thuật. Trĩ ngoại có huyết khối phải dùng phẫu thuật.

Dùng thuốc

Có rất nhiều thứ thuốc bôi ngoài để giảm các triệu chứng, các thuốc bôi ngoài thường dùng các chất bôi trơn, các chất làm mềm và làm dịu da, có thể kết hợp trong đó một thuốc tê để giảm đau. Khi không có nhiễm khuẩn, có thể kết hợp với corticosteroid, các chất kết hợp này chỉ có tác dụng ngắn hạn. Một số chất khác hay được kết hợp do tính chất làm dịu như: một số muối bismuth, kẽm oxid, resorcinol …

Các bioflavonoid cũng được kết hợp trong các thuốc bôi ngoài, ở một số nước các chất này còn được dùng theo đường uống, và cùng với một số chất khác như calci dobesilat, tribenosid được dùng do tính chất bảo vệ thành tĩnh mạch.

Y học cổ truyền
Từ ngàn đời nay, đông y đã có nhiều phương pháp giúp điều trị trĩ và táo bón hiệu quả:
  • Ngư tinh thảo (rau diếp cá, rau dấp cá) có thành phần chính là Quercetin, một flavonoid có tác dụng bảo vệ thành mạch rất mạnh. Tinh dầu Diếp cá có chứa decanonyl acetaldehyde có tác dụng kháng sinh mạnh, tiêu diệt cả trực khuẩn mủ xanh, do đó chống viêm nhiễm rất hiệu quả. Cao diếp cá có tác dụng nhuận tràng, chống táo bón rất tốt.
  • Đương quy là một vị thuốc quý, có tác dụng bổ máu, điều kinh, chống thiếu máu, suy nhược cơ thể. Đương quy có tác dụng hoạt huyết giảm đau, giúp chữa viêm loét, mụn nhọt. Ngoài ra, Đương quy còn có tác dụng nhuận tràng thông đại tiện, chống táo bón.
  • Rutin là một flavonoid aglycon có nhiều trong hoa Hòe. Rutin có hoạt tính vitamin P, có tác dụng làm bền thành mạch, làm giảm tính "dòn" và tính thấm của mao mạch, làm tăng sự bền vững của hồng cầu, giảm trương lực cơ trơn, chống co thắt. Ngoài ra, rutin còn có tác dụng kích thích sự bài tiết của niêm mạc ruột và do vậy giúp nhuận tràng. Rutin được dùng để phòng ngừa những biến chứng của bệnh xơ vữa động mạch, điều trị suy tĩnh mạch, giãn tĩnh mạch, trĩ, các trường hợp xuất huyết như chảy máu cam, ho ra máu, tử cung xuất huyết, phân có máu….
  • Curcumin là một hoạt chất chính của củ nghệ (Curcuma domestica), có hoạt tính chống viêm do khả năng quét những gốc oxy có liên quan đến quá trình viêm. Curcumin còn có tác dụng ức chế khối u, thông mật, lợi tiêu hóa. Bổ sung Curcumin giúp chống viêm và làm mau lành các vết tổn thương của trĩ.
  • Magiê có tác dụng nhuận tràng, giúp hạn chế chứng táo bón vốn là căn nguyên gây bệnh trĩ. Ngoài ra, Magiê còn là một khoáng chất rất cần thiết cho cơ thể.
Người bệnh có thể chọn thuốc trị bệnh trĩ từ các bài thuốc đông dược đã được bào chế thành các dạng thuốc viên rất tiện lợi, thích hợp để tự điều trị bệnh trĩ khi bệnh ở mức nhẹ, có hiệu quả điều trị cao, an toàn và không lo tác dụng phụ. Ngoài ra, cần tránh các chất kích thích như cà phê, rượu, trà, ớt, tiêu. Ăn đủ chất xơ, uống nhiều nước và thường xuyên tập thể dục, thể thao như bơi lội, đi bộ,…

Đông y chữa từ nguyên nhân gây bệnh đây là một trong những ưu điểm của Đông y so với Tây y (y học hiện đại)


Táo bón lâu ngày là một trong nguyên nhân gây bệnh trĩ

Viêm đại tràng và táo bón lâu ngày là các nguyên nhân chủ yếu gây bệnh trĩ. Ngoài ra, những người làm việc nhiều ở tư thế đứng hoặc ngồi, ăn nhiều chất kích thích, ít chất xơ… cũng có nguy cơ cao mắc bệnh.
Bệnh trĩ là sự phồng lớn của một hay nhiều tĩnh mạch trĩ trên hoặc dưới, thậm chí cả hai (gây trĩ nội, trĩ ngoại hoặc trĩ hỗn hợp). Triệu chứng thường thấy nhất là đại tiện ra máu, thường là màu đỏ tươi, xảy ra ngay sau khi đại tiện. Hiếm khi trĩ gây xuất huyết ồ ạt nhưng lâu ngày nó có thể dẫn đến thiếu máu mạn tính và nặng. Sau một thời gian, trĩ lớn và sa.

Mới đầu, hiện tượng sa xuất hiện lúc đi đại tiện nhưng về sau sẽ liên tục. Bệnh nhân rất đau, nhất là khi ngồi, di chuyển khó khăn. Vùng hậu môn và quanh hậu môn bị sưng phù nhiều, tách rộng ra hai bên sẽ thấy niêm mạc trĩ nội thuyên tắc nằm ở giữa. Hai màu niêm mạc trong và ngoài rất khác nhau.


Tình trạng trĩ nội thuyên tắc có thể tự khỏi. Sau vài ngày, bệnh nhân bớt đau, bớt sưng, trĩ trở vào trong hậu môn. Sau cơn thuyên tắc, trĩ có thể bị xơ hóa, nhỏ lại và bớt chảy máu. Một vài trường hợp bị lở loét bó trĩ hoặc hoại tử từng vùng. Nhiều trường hợp hoại tử tạo ra áp xe vùng hậu môn và vùng chậu.
Khi có các dấu hiệu kể trên, bệnh nhân nên đi khám nhằm loại trừ ung thư đại tràng hay ung thư trực tràng tiềm ẩn. Nếu đã xác định là trĩ, bạn nên dùng khẩu phần nhiều chất sợi, chuối, táo, lê, các loại củ, khoai như khoai lang, khoai từ, bí đỏ… và uống nhiều nước, tránh rặn mạnh khi đại tiện hay khuân vác nặng.
Ngoài ra, người bệnh nên giữ vùng hậu môn cho sạch: rửa bằng nước, không dùng giấy lau khi đi đại tiện; không nên rửa bằng xà phòng vì dễ gây kích thích, ngứa nhiều hơn; ngâm hậu môn với nước ấm ngày 4 lần, mỗi lần 10 phút. Bạn cũng có thể đắp gạc lạnh với số lần và thời gian tương tự. Nếu búi trĩ sa ra ngoài, bạn nên nhét nó nhẹ nhàng vào hậu môn để tránh tình trạng thuyên tắc.
Với tình trạng đau phù và viêm trong các cơn trĩ cấp, người bệnh có thể xử trí bằng cách bôi thuốc mỡ hoặc thuốc đạn có hydrocortisone. Tuy nhiên, bạn không nên dùng quá 2 tuần lễ vì hydrocortisone có thể gây teo niêm mạc hậu môn, dùng lâu dài có thể gây các biến chứng trên tuyến thượng thận và hệ xương khớp. Các trường hợp bị trĩ mãn tính có thể sử dụng thuốc Đông y như bài thuốc Bổ trung ích khí.
Một số phương pháp điều trị trĩ khác như nong hậu môn, thắt búi trĩ bằng dây thun, chích xơ hóa búi trĩ hoặc đốt điện, chích nước nóng…, phẫu thuật cắt trĩ (áp dụng đối với trĩ độ 3 và 4). Trường hợp trĩ ngoại bị thuyên tắc nên mổ ngay lấy cục máu đông. Bệnh nhân sẽ hết đau rất nhanh và phòng được biến chứng do thuyên tắc gây nên.
Để phòng ngừa bệnh trĩ, bạn cần uống nhiều nước (mỗi ngày ít nhất 8-10 ly) để giúp phân mềm và dễ đại tiện; ăn nhiều rau cải, trái cây (giúp phân mềm, khối phân tăng thêm nên bớt phải rặn); vận động để tránh tăng áp lực trong tĩnh mạch, nhất là sau khi ngồi hoặc đứng lâu. Vận động cũng giúp tránh táo bón và giảm trọng lượng nếu bệnh nhân béo phì. Nếu phải ngồi lâu, bệnh nhân không được lót gối mềm dưới mông vì sẽ làm tăng hiện tượng chèn ép các tĩnh mạch.




dimanche 5 octobre 2014

BLOG : Đường (Sugar - Sucre)


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Có một điều tương đồng ở tất cả mọi người, dù già hay trẻ ai nấy cũng đều thích ngọt cả. Một món ăn có vị ngọt vẫn dể hấp dẫn khẩu vị hơn là một món ăn nhạt nhẽo vô vị. Thèm ngọt là một nhu cầu thiết yếu của cơ thể để củng cố năng lượng. Carbohydrate hay Glucide là những hợp chất bao gồm đường (sugar), bột đường hay tinh bột (starch) và chất xơ (fibre). Những chất này rất cần thiết cho chúng ta để sống. Nhưng ngọt quá đôi khi cũng nguy hiểm!


Đường là một hợp chất ở dạng tinh thể, có thể ăn được. Các loại đường chính là sucrose, lactose và fructose. Vị giác của con người xem vị của nó là ngọt. Đường là một loại thức ăn cơ bản chứa carbohydrate lấy từ đường mía hoặc củ cải đường, nhưng nó cũng có trong trái cây, mật ong... và trong nhiều nguồn khác. Nó là nguyên liệu chính để làm kẹo. Sử dụng quá mức đường có liên quan đến bệnh tiểu đường loại 2, béo phì và sâu răng.


Lịch sử

Bánh đường là dạng truyền thống của đường dùng từ thế kỷ 17 đến thế kỷ 19, cần dùng một cây kẹp để cắt nhỏ đường. Ban đầu, con người nhai mía để lấy chất ngọt. Người Ấn Độ khám phá ra cách tạo tinh thể đường khoảng vào triều đại Gupta, năm 350.


Cây mía có xuất xứ từ vùng nhiệt đới Nam Á (bao gồm 7 quốc gia: Ấn Độ, Pakistan, Nepal, Bhutan và Bangladesh, Sri Lanka và Maldives.) và Đông Nam Á (bao gồm 11 quốc gia: Brunei, Campuchia, Đông Timor, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanma, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam). Những giống khác có thể có xuất sứ từ những nơi khác nhau như S. barberi có xuất xứ ở Ấn Độ, S. edule và S. officinarum đến từ Tân Ghi-nê.

Trong cuộc cách mạng nông nghiệp Hồi giáo, các công ty Ả Rập đã thực hiện kỹ thuật sản xuất đường của Ấn Độ và sau đó điều chỉnh và biến nó thành một ngành công nghiệp lớn. Ả Rập đã thành lập nhà máy đường và đồn điền lớn nhất đầu tiên.

Thập niên 1390 chứng kiến sự phát triển vượt bậc, với sản lượng nước mía thu được tăng gấp đôi. Điều này cho phép phát triển nền kinh tế về đường đến Andalusia và Algarve. Thập niên 1420 chứng kiến sự mở rộng sản xuất đến đảo Canary, Madeira và Açores.

Người Bồ Đào Nha đã đem đường đến Brasil. Hans Staden, xuất bản năm 1555, viết rằng năm 1540, đảo Santa Catarina có 800 xưởng sản xuất đường và bờ biển phía bắc Brazil, Demarara và Surinam có 2000 cái nữa. Ước chừng có 3000 xưởng nhỏ được xây dựng trước năm 1550 ở Tân Thế Giới, tạo ra một nhu cầu lớn chưa từng có về bánh răng gang, đòn bẩy, trục xe và các thiết bị khác. Các nghề chuyên về chế tạo khuôn và luyện gang được phát triển ở châu Âu do sự bùng nổ về sản xuất đường.

Sau năm 1625, người Hà Lan mang mía từ Nam Phi đến các đảo ở vùng Caribê — nơi nó được trồng từ Barbados đến đảo Virgin. Những năm 1625 đến 1750 thấy đường trở nên đáng giá như vàng. Cùng với châu Âu thuộc địa hóa châu Mỹ, Caribê trở thành nguồn đường lớn nhất thế giới. Các đảo này có thể cung cấp mía dùng sức lao động của nô lệ và sản xuất đường với giá rẻ hơn rất nhiều so với đường nhập khẩu từ phương Đông.

Trong suốt thế kỷ 18, đường trở nên cực kỳ phổ biến và thị trường đường đã trải qua nhiều cuộc bùng nổ kinh tế. Do châu Âu đã thiết lập các xưởng sản xuất đường trên các đảo lớn hơn ở Caribê, giá đã giảm, đặc biệt ở Anh. Cuối thế kỷ 18, tất cả mọi thành phần trong xã hội đều trở thành khách hàng bình thường của một mặt hàng từng là xa xỉ phẩm. Đầu tiên, đường ở Anh dùng trong trà, nhưng sau đó kẹo và sôcôla trở nên cực kỳ phổ biến. Các nhà cung cấp thường bán đường trong các bánh đường, và người dùng cần phải dùng kẹp cắt đường để cắt thành miếng.


Bắt đầu từ cuối thế kỷ 18, việc sản xuất đường đã được cơ giới hóa nhiều hơn. Động cơ hơi nước đầu tiên được sử dụng trong các nhà máy đường ở Jamaica vào năm 1768, và không lâu sau, hơi nước đã thay thế việc đốt lửa trực tiếp trong chế tạo đường. Cũng trong thế kỷ này, châu Âu bắt đầu thử nghiệm sản xuất đường từ các cây khác. Andreas Marggraf đã tìm thấy sucrose trong rễ củ cải đường và học trò của ông, Franz Achard, đã xây dựng nhà máy sản xuất đường từ củ cải đường ở Silesia. Tuy nhiên nền công nghiệp đường từ củ cải đường đã bùng nổ trong suốt chiến tranh Napoleon, khi Pháp và phần lục địa châu Âu bị cắt nguồn cung cấp từ Caribê. Ngày nay, 30% lượng đường được sản xuất từ củ cải đường.

Ngày nay, một nhà máy đường cỡ lớn khoảng 1500 tấn mỗi ngày cần một nguồn nhân lực thường xuyên khoảng 150 người để sản xuất liên tục 24 giờ.


Các loại đường

Đường là chất phụ gia đứng hàng đầu ở bất cứ nơi nào trên thế giới. Các loại đường sau đây được coi là thông dụng nhất :

Đường cát (Đường Kính Trắng hay còn gọi là  Đường cát trắng) là loại đường thông dụng nhất hiện nay trên thế giới. Màu trắng, hạt nhuyễn mịn hay hạt to, biến chế từ mía đường. Tên khoa học của đường cát là sucrose hay saccharose. Đường cát qua nhiều giai đoạn tẩy trắng bằng hóa chất cho nên người ta cho rằng ăn đường cát thường xuyên sẽ không tốt cho sức khỏe.

Đường thô: có được trong giai đoạn đầu của việc sản xuất đường. Đường thô màu sẫm và hạt to hơn đường cát trắng.

Đường nâu: Màu từ sẫm tới nhạt. Đây là đường cát (trên 90%) được nhà sản xuất trộn thêm mật đường. Người ta quảng cáo rằng ăn đường nâu thơm ngon và tốt cho sức khỏe hơn ăn đường cát trắng.

Đường bột: Đây là loại đường nhuyễn y như bột. Đôi khi người ta thêm tinh bột bắp để giúp đường khỏi bị đóng cục. Đường bột được dùng để phủ bên ngoài của các loại bánh ngọt.

Đường trái cây (fructose): hiện diện một cách tự nhiên trong các loại trái cây.

Đường trong sữa (lactose): các loại sữa đều có chứa lactose một cách tự nhiên.

Mật đường hay mật gỉ (molasse): Sau khi đường cát được trích lấy, phần nước còn lại được gọi là mật đường. Chất này có màu đen, vị ngọt hơi đắng và có chứa nhiều chất khoáng như magnesium và sắt. Mật đường được dùng để nuôi gia súc, để cất rượu cồn ethyl alcohol, hoặc để làm bánh.

Sirô bắp hay High Fructose Corn Syrup (HCFS): Đây là một loại đường nhân tạo được chế biến công nghiệp. Sirô bắp được sử dụng rất rộng rãi trong công nghệ biến chế thực phẩm.

Sirô cây phong (maple syrup): Đây là sirô “Quốc hồn Quốc túy của đất nước Canada”. Nhựa cây phong được trích lấy khoảng tháng ba khi bớt tuyết và trời bắt đầu hơi ấm áp, đến cuối tháng tư lúc cây đâm chồi thì ngưng hứng nhựa. Bốn mươi lít nhựa cây phong đem nấu cô đặc thu được 1 lít sirô.

Mật ong: rất nhiều loại khác nhau. Nói chung mật ong chứa nhiều đường fructose 38%, dextrose 31%, sucrose 1 %, nước 17 %, và các loại vitamin.

Đường nghịch chuyển (invert sugar): có được qua phương pháp làm thủy phân sucrose ra đường glucose và đường fructose với 1 tỷ lệ bằng nhau. Đường nghịch chuyển ngọt hơn đường cát, và thường được dùng để làm chậm lại hiện tượng kết tinh (thí dụ trong các lọ mứt) cũng như để giữ độ ẩm lâu hơn, nhất là đối với các loại bánh ngọt có chứa rất ít chất béo, nhờ vậy sản phẩm sẽ lâu khô và có vẻ tươi mới.

Tại Việt Nam, ngoài những loại đường thông thường như vừa kể trên, có nhiều loại đường khác nữa là: đường thẻ, đường móng trâu, đường chảy dùng để nấu chè hoặc kho cá vì nó rẻ tiền. Đường xắc, dùng làm nước mắm đường. Ở vùng Tân Châu, Châu Đốc thì có đường thốt nốt, đường phèn…


Đường đơn hay đường hấp thụ nhanh

Đây là đường theo nghĩa thông thường mà chúng ta hiểu vv… Những chất tạo vị ngọt này được thấy trong bánh, kẹo, chè, chocola hoặc trong các loại nước ngọt Pepsi, Coca, soda, v.v. Đường mía (saccharose), đường trái cây (fructose), đường sữa (lactose) là những thí dụ điển hình.


Trong ruột, đường đơn chuyển thành glucose và được hấp thụ vào máu một cách rất nhanh chóng. Khi đường huyết tăng, lập tức tụy tạng sẽ tiết ra insulin để giúp tế bào hấp thụ glucose vào, đồng thời kéo đường huyết xuống mức bình thường.


Đường phức hay đường hấp thụ chậm

Vị hơi ngọt, gồm có bột đường (tinh bột) và các chất xơ. Tinh bột được thấy trong bánh mì, khoai tây, cơm, gạo, ngũ cốc, và trong các loại mỳ (pasta). Chất xơ có nhiều trong rau, củ, hoa quả, hạt cũng như trong các loại ngũ cốc làm từ hạt thô (whole grain)…


Đường phức cần sự tác động của một số enzymes để chuyển ra thành glucose rồi mới được hấp thụ vào máu, do vậy đường huyết tăng lên chậm hơn so với trường hợp đường đơn. Đường phức rất cần cho các hoạt động biến dưỡng của cơ thể. Đường đơn và đường phức không thể thay thế lẫn nhau được.


Ăn nhiều đường quá có hại sức khỏe không?

Đường đơn và đường phức đều tạo ra năng lượng. Trung bình một gram đường cho ra 4 Calo. Năng lượng dư thừa sẽ được dự trữ dưới dạng glycogen và mỡ. Ăn ngọt thường xuyên quá, mập ra cũng dễ hiểu mà thôi. Tình trạng béo phì dễ dẫn đến các bệnh tim mạch, tăng áp huyết, và tiểu đường. Ngoài ra việc ăn nhiều đường, kể cả đường thiên nhiên như đường từ trái cây và mật ong cũng có thể đưa đến tình trạng hư răng nếu không chịu súc miệng đánh răng kỹ lưỡng. Ăn nhiều bánh kẹo ngọt cũng có thể làm chất triglyceride (1 loại mỡ xấu ) trong máu gia tăng.

Năm 1998, trên thế giới có khoảng 135 triệu người mắc bệnh tiểu đường (diabetes). Thực phẩm quá dồi dào đường cũng như quá nhiều mỡ dầu chất béo, cộng thêm việc thiếu vận động là một vài trong những nhân tố dẫn đến tình trạng béo phì, bệnh tim mạch và bệnh tiểu đường. Lối sống vội vã, ăn nhiều thực phẩm chế biến sẵn hay đồ ăn nhanh là những nguyên nhân quan trọng cho sự phát triển nhanh của những căn bệnh ở trên.


Người bị bệnh tiểu đường có thể dùng đường được không?

Theo l’Association Canadienne du Diabète , thì họ vẫn có thể ăn ngọt được, nhưng phải ăn một cách điều độ chừng mực và vừa phải thôi. Họ cũng có thể thay thế đường bằng cách ăn trái cây, rau củ, hoặc các sản phẩm sữa. Trong một ngày họ có thể ăn 10% Calo từ các thức ăn ngọt. Trên đây là những chỉ dẫn chung chung mà thôi. Bệnh mỗi người mỗi khác, nên chỉ có bác sĩ điều trị mới có quyền quyết định.


Chỉ số đường huyết (Glycaemic index, GI) là gì?

GI do giáo sư David Jenkin, Canada nêu ra đầu tiên vào những năm 80. Ý niệm này dần dần đã thay thế ý niệm đường đơn và đường phức ngày nay đã lỗi thời. Chỉ số đường huyết là vận tốc chuyển hóa của 1 carbohydrate ra thành glucose để được hấp thụ vào máu.

Một thức ăn có GI càng cao thì đường huyết càng tăng nhanh. Vì vậy các nhà dinh dưỡng khuyên ta nên dùng những thức ăn nào có GI thấp để ngăn ngừa béo phì, bị bệnh tim mạch và tiểu đường. Trong thực tế, chúng ta thường pha trộn lẫn lộn các loại thức ăn có GI khác nhau trong các bữa ăn hàng ngày. Nhìn chung các loại đường phức tạp như ngũ cốc, cơm gạo, bánh mì, mỳ bún miến phở, spaghetti, và các loại rau xanh là những thực phẩm chứa nhiều dưỡng chất và chất xơ. Đối với những loại carbohydrate này, đường huyết tăng chậm hơn các loại đường đơn quá tinh khiết như đường cát trắng chẳng hạn. Tuy vậy cũng có một vài ngoại lệ, một số chất đường phức tạp như gạo trắng, bắp, khoai tây lại có GI cao hơn một số đường đơn giản.

GI cũng có thể thay đổi tùy theo nhiều yếu tố khác nhau như : kích thước các phân tử tạo nên sản phẩm, chẳng hạn như ngũ cốc càng nhuyễn, càng tinh khiết thì có GI càng cao, tùy theo cơ cấu sinh hóa (thí dụ gạo Basmati chứa nhiều đường amylose nên có GI thấp hơn gạo trắng hạt dài, là thứ gạo chúng ta ăn hằng ngày), tùy theo cách biến chế nấu nướng, như khoai tây nấu chín trong nồi có GI thấp hơn khoai tây đút lò, bột khoai tây có GI cao hơn GI khoai tây nguyên củ, cà rốt tươi có GI thấp hơn GI của cà rốt nấu chín v.v.

Trong lĩnh vực thể thao, GI rất đáng được các vận động viên quan tâm. Đối với các vận động viên, hôm trước ngày thi đấu, nên ăn những loại thực phẩm có GI thấp và trung bình, như mỳ, spaghetti, chuối, sữa chua để dự trữ năng lượng… Ngày thi đấu thì dùng những thức ăn dễ tiêu, có GI cao như các thỏi bánh kẹo ngọt có nhiều đường và vitamin. Liền ngay sau khi kết thúc cuộc thi đấu nên ăn những món có GI cao để bù đắp lại nhanh chóng năng lượng tiêu hao.


Thức ăn chuẩn là Glucose có GI = 100

Thức ăn có GI thấp hơn 55: Đậu nành, đậu phộng (15), đậu xanh (30), đậu trắng (38), đậu đỏ (40), sữa (30), sữa chua tinh khiết (35), cam (40), táo (39), bột lúa mạch (50), bún (35), gạo Basmati có nhiều amylose (50), cà rốt tươi (35), fructose hay đường trái cây (20), gạo lức, đậu petit pois, khoai lang, bánh mì multigrain, rau cải xanh, cà chua, cà tím, ớt xanh, hành, tỏi, nấm rơm (10), bưởi (22), cam (43), xoài (55), nho tươi (43).

Thức ăn có GI trung bình 56-69: càrem (59), nước cam lon (65), chuối (62), đu đủ (60), bánh mỳ ngũ cốc nguyên hạt (69), trái kiwi (58), khoai mỡ (51), đường cát sucrose, saccharose (65), thơm hay dứa (66).

Thức ăn có GI cao trên 70: cà rốt nấu chín (85), cơm trắng gạo hạt dài (72), các loại ngũ cốc, bột ngô (80), mật ong (90), Pepsi Coca (70), bia (110 ), khoai tây chiên hay khoai đút lò (95), khoai tây nấu chín (70), dưa hấu (72) , bí (75), bánh biscuit khô cracker (78), bánh mì baguette (95).

Ghi chú : chỉ số ở trên áp dụng cho các nguyên liệu nguyên chất, không thêm các loại phụ gia thực phẩm hay chất bảo quản, và cũng là chỉ số có độ chính xác một cách tương đối.


Đường hóa học và các chất thay thế đường

Đây là những chất có vị ngọt nhưng tạo ra rất ít calories. Người ta chia chúng ra làm 2 nhóm :


1. Nhóm có tính dinh dưỡng: Xylitol, Sorbitol và Mannitol. Chúng có vị ngọt nhưng lại có thêm tính nhuận trường nửa, ăn trên 30g/ ngày có thể bị tiêu chảy. Mỗi gram của các chất này chỉ cho ra 2 Calo, trong khi đường cát cho ra 4 calo. Các loại đường này không phổ biến lắm, chỉ thấy được sử dụng trong một số sản phẩm, chẳng hạn như trong kẹo chewing gum.


2. Nhóm không có tính dinh dưỡng: Cyclamate, Saccharin, Aspartame, Sucralose. Những chất này không tạo ra năng lượng, nhưng lại có vị ngọt gấp cả trăm lần đường cát. Chúng thường được đựng trong các bao nho nhỏ màu xanh, vàng để chúng ta bỏ vào café. Kỹ nghệ thực phẩm cũng sử dụng các loại đường hóa học này để tạo vị ngọt cho các loại sản phẩm ít năng lượng và các thực phẩm dành cho người ăn kiêng (diet). Thông dụng nhất là chất aspartame mà chúng ta thấy trong các thức ăn thức uống diet.

Các nhà dinh dưỡng đều đồng ý là các loại đường này có thể thay thế đường cát, nhưng không thể xem chúng là một giải pháp thỏa đáng để giúp ta có một hàm răng tốt, để giảm cân, hoặc để kềm hãm bệnh tiểu đường.


Cần nên đọc kỹ nhãn hiệu

Thông thường trên mổi loại thực phẩm sản xuất theo lối công nghiệp đều có liệt kê bản nguyên liệu (ingredients) sử dụng. Các chất này đều được xếp theo thứ tự quan trọng từ nhiều tới ít. Thường thì các danh từ tận cùng bằng chữ OSE là đường, như sucrose, fructose, dextrose, saccharose, maltose…


Khuyến cáo của cơ quan Liên Hiệp Quốc

Tổ chức Y tế Thế Giới (WHO) và Cơ Quan Lương Nông Quốc Tế (FAO) vừa phối hợp nghiên cứu và nhất trí khuyến cáo mọi người nên cắt giảm số Calories do đường mang vào xuống dưới mức 10%. Nói một cách dễ hiểu, nếu tổng số nhu cầu của một người là 2000 Calories/ngày, thì Calories do đường tinh khiết tạo nên phải thấp hơn 200. Được biết, 1g đường cho 4 Calories, 1 muỗng café đường có khoảng 16 Calories và 1 lon Coke chứa khoảng 9 muỗng đường tương đương với 145 Calories.

Mục đích của Cơ Quan Liên Hiệp Quốc là nhằm giúp ngăn chặn phần nào các loại bệnh mạn tính cũng như các bệnh về tim mạch, bệnh béo phì, bệnh tiểu đường và một vài loại ung thư. Để duy trì một sức khỏe tốt, chúng ta cần theo đuổi một chế độ dinh dưỡng ít dầu mỡ, ít đường, ít muối, không được dùng quá 2400 mg sodium hay 5 g muối, tương đương với 1 muỗng café muối ăn trong một ngày. Đồng thời cần phải ăn nhiều rau củ, trái cây tươi và nên vận động, tập thể dục thường xuyên.

Chắc chắn là khuyến cáo này không làm hài lòng kỹ nghệ bánh kẹo và kỹ nghệ nước ngọt rồi. Một tài liệu khảo cứu mới vừa được phổ biến trong tạp chí JAMA, August 2004 cũng đưa kết luận là các loại nước ngọt như Coke, Pepsi, Soda… vì chứa quá nhiều đường nên là một trong nhiều nguyên nhân quan trọng làm gia tăng sự xuất hiện của bệnh tiểu đường tuýp 2.


Kết luận

Thời đại nào, xã hội nào cũng thế, thức ăn ngọt vẫn dễ hấp dẩn mọi người. Tại Canada, từ 1986 đến 1996, các sản phẩm ngọt đã tăng vọt lên hơn 102%, trong số này nước ngọt tăng hơn 5%. Số người bị béo phì tăng lên một cách đáng ngại: 25% ở trẻ em và 50% ở người lớn.

Công ty Coca Cola và Pepsi Cola không ngừng tìm mọi cách để xâm chiếm thị trường, và khai thác thị hiếu hảo ngọt của dân chúng, đặc biệt là giới trẻ em, sinh viên học sinh. Các nhà dinh dưỡng thường xếp các loại thức ăn thức uống bán trong máy (bánh, kẹo, chip, chocolat, Coca Pepsi…) vào nhóm tạp phẩm (junk food) hay còn gọi là thức ăn rác, không bổ dưỡng gì hết vì chứa nhiều Calorie rỗng (empty calorie), nhiều đường, nhiều caffeine, nhiều gaz, và chất hóa học, nhưng lại không có hoặc có rất ít vitamins.






mardi 30 septembre 2014

SỨC KHOẺ : Dây thần kinh toạ


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Đau dây thần kinh tọa có thể gặp ở mọi lứa tuổi, nhiều nhất là lứa tuổi 30 - 60, nam mắc nhiều hơn nữ. Đau dây thần kinh tọa rất thường gặp, trường hợp đau nhẹ người bệnh vẫn đi lại, làm việc bình thường. Nếu đi lại nhiều, đứng nhiều, ngồi nhiều trong một ngày, đau có thể tái phát. Nếu đau nhiều thì khi chân dậm mạnh xuống đất, ho mạnh, hắt hơi, đi đại tiện rặn cũng đau. Đau nặng ảnh hưởng nhiều đến khả năng lao động.


Mang vác và lao động nặng ở tư thế sai, các động tác thay đổi tư thế đột ngột, gò bó, rung xóc, chấn thương,... là yếu tố thường xuyên nhất làm khởi phát bệnh. Ngoài ra, yếu tố tâm lý cũng đóng vai trò nhất định thúc đẩy xuất hiện và tái phát bệnh thần kinh tọa. Đau dây thần kinh có đặc điểm đau lan dọc xuống phía đùi.


Nguyên nhân do đâu?

Dây thần kinh tọa là một dây thần kinh dài nhất cơ thể, trải dài từ phần dưới thắt lưng đến tận ngón chân. Dây thần kinh tọa chi phối các động tác của chân, góp phần làm nên các động tác đi lại, đứng ngồi của hai chân.


Do vậy, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến đau thần kinh toạ như: Thoát vị đĩa đệm thắt lưng, các tổn thương thực thể khác ở vùng thắt lưng (dị dạng bẩm sinh, chấn thương, thoái hóa cột sống thắt lưng, u, viêm cột sống dính khớp, viêm đốt sống do nhiễm khuẩn).

Viêm rễ thần kinh toạ do ngộ độc, bướu gây chèn ép đường đi rễ thần kinh tọa, hẹp ống sống thắt lưng, bệnh lý rễ thần kinh do đái tháo đường, lao cột sống thắt lưng gây chèn ép rễ thần kinh toạ… trong đó nguyên nhân hay gặp nhất là thoát vị đĩa đệm thắt lưng do đĩa đệm là phần mềm nằm giữa các đốt sống. Khi khiêng vác quá sức, lực tác động vượt quá mức chịu đựng của đĩa đệm, có thể gây rách vành thớ: nhân nhầy chui theo khe rách ra phía sau, chèn ép lên rễ thần kinh gây đau. Một số trường hợp chịu lực quá nặng, đĩa đệm vỡ gây đau cấp tính.


Các dấu hiệu

Biểu hiện đặc trưng bằng cảm giác đau lan dọc xuống phía đùi theo rễ thần kinh lưng 5 (L5) và rễ thần kinh sống 1 (S1). Nếu rễ thần kinh L5 bị tổn thương thì có hiện tượng đau dọc từ lưng eo phía ngoài xuống ngoài động mạch cẳng chân tới tận ngón chân út.

Nếu rễ thần kinh S1 bị tổn thương thì đau dọc ra phía sau mông, thẳng xuống sau đùi, sau bắp cẳng chân tới phía ngoài bàn chân. Nếu bị bệnh thần kinh tọa trên (thần kinh hông) thì đau thường tới phía trên đầu gối; nếu bị thần kinh tọa dưới thì đau đến mắt cá ngoài bàn chân.


Khi đó, người bệnh có cảm giác đau lan từ lưng xuống, lệch sang một bên mông, xuống đùi, khoeo, gót chân. Hoặc thấy đau ngược lại, từ gót chân lên. Ngoài ra, tùy từng bệnh nhân có những biểu hiện sau:

- Nhói lưng khi ho, khi hắt xì hơi, khi cười.

- Cột sống cứng, bị đau khi chuyển dịch hoặc nghiêng người.

- Khó cúi người xuống vì đau.

- Đau giữa cột sống hay lệch một bên, đau tăng lên khi bị rung người (đi xe qua ổ gà, vấp vào đá).

- Nếu đi lại nhiều, đứng nhiều, ngồi nhiều trong một ngày, đau có thể tái phát. Đau tăng thì khi chân giẫm mạnh xuống đất, ho mạnh, hắt hơi,...

- Nếu tình trạng đau kéo dài có thể thấy teo cơ bên chân đau.

Tuy nhiên, trong trường hợp đau nhẹ, người bệnh vẫn đi lại, làm việc bình thường. Nếu đi lại nhiều, đứng nhiều, ngồi nhiều trong một ngày, đau có thể tái phát. Nếu đau nhiều thì khi chân giẫm mạnh xuống đất, ho mạnh, hắt hơi, đi đại tiện rặn cũng đau. Đau nặng ảnh hưởng nhiều đến khả năng lao động. Tùy theo tổn thương, họ có thể không nhắc được gót hay mũi chân, dần dần xuất hiện teo cơ đùi, mông, cẳng chân bên tổn thương. Khi bệnh nặng, chân tê bì mất cảm giác, có thể đại tiểu tiện không tự chủ.


Đề phòng bệnh tái phát

Để phòng bệnh đau thần kinh tọa, cần tập thể dục vừa sức thường xuyên để nâng cao thể lực, áp dụng các bài tập tăng cường sự dẻo dai, khỏe mạnh của các khối cơ lưng cạnh cột sống, cơ bụng và tăng sự mềm mại của cột sống.

Tránh mọi chấn thương cho cột sống, tránh ngã dồn mông xuống đất. Nhất là đối với bệnh nhân đã từng mắc bệnh, sẽ giúp phòng ngừa tái phát bệnh lý thoát vị đĩa đệm. Người bị đau thắt lưng tránh tuyệt đối các động tác thể thao hoặc vận động quá mức như mang vác nặng, vác balô nặng, bóng chuyền, tennis. Không nên nằm đệm quá dày và mềm, giường lò xo.


Các động tác sinh hoạt, lao động hằng ngày phải thích nghi với tình trạng đau cột sống thắt lưng. Bảo đảm tư thế đúng khi đứng, ngồi, mang vác... hay nhấc vật nặng. Cần đứng trên tư thế thẳng, không rũ vai, gù lưng. Để tránh khom lưng, khi đọc và viết lâu, nên ngồi gần bàn viết, ghế không quá cao hoặc bàn viết không quá thấp. Nếu phải ngồi lâu, nên thường xuyên đứng lên và làm các động tác thể dục giữa giờ.

Đối với những người thường xuyên phải lao động chân tay, cần chú ý tránh khiêng vác vật nặng, nhất là bê vật nặng ở tư thế cúi lom khom. Để tránh tải trọng quá mức lên cột sống, bệnh nhân có thể đeo đai lưng khi mang vác vật nặng; hãy để cho trọng lượng của vật chia đều cả hai bên cơ thể, không bao giờ mang vật nặng ở một bên người hay trong thời gian dài. Khi muốn nhấc một vật nặng lên, nên co đùi gấp gối đôi chân gập lại vừa phải nhưng vẫn giữ lưng thẳng. Không nên giữ thẳng hai chân và cúi cong người xuống khi nhấc.


Chế độ ăn cho bệnh đau thần kinh tọa

Đau thần kinh tọa xảy ra khi dây thần kinh hông, dây thần kinh ngoại vi bắt đầu ở lưng dưới của bạn và đi xuống mông và chân tay thấp hơn, bị nén, bị viêm hoặc bị kích thích. Các triệu chứng có thể bao gồm đau lưng dưới bức xạ mông, hông, chân và bàn chân, ngứa ran và tê tay chân của bạn thấp hơn, phối hợp suy giảm, đi lại khó khăn, các cơn co thắt cơ bắp không tự nguyện và yếu cơ.

Điều trị bệnh ngoài việc dùng thuốc kết hợp với châm cứu bấm huyệt cần kết hợp với chế độ ăn uống bổ sung một số loại vitamin có tác dụng giảm bớt áp lực thần kinh, giảm viêm, bớt khó chịu dây thần kinh bị viêm, đau, hoặc tổn thương, …


Vitamin B-6: được biết đến như pyridoxine, làm giảm đau thần kinh hông, cảm giác tê ngứa ran ở dây thần kinh hông, sửa chữa những tổn thương của dây thần kinh hông, có tác dụng hỗ trợ sản xuất hồng cầu, tổng hợp protein và tăng sản xuất dopamine và serotonin, chất dẫn truyền thần kinh có hỗ trợ hệ thống trung tâm thần kinh của bạn.

Thực phẩm giàu vitamin B6 gồm có: chuối, đậu garbanzo, bơ đậu phộng, nước ép cà chua, rau bina, đậu nành, hạt hướng dương, quả óc chó, thịt gia cầm và cám lúa mì.


Vitamin B-9: còn được gọi là axit folic, làm tăng sản xuất tế bào máu đỏ, viện trợ trong việc tái tạo tế bào, hỗ trợ tổng hợp DNA, làm giảm đau dây thần kinh hông ở lưng và chân tay. Ngoài ra có tác dụng cải thiện phối hợp cơ, bảo vệ dây thần kinh hông của bạn khi nó bị tổn thương, có tác dụng hỗ trợ phát triển thần kinh phôi thai và hỗ trợ trong việc hình thành ống thần kinh, mà cuối cùng phát triển thành hệ thống thần kinh trung ương trong một bào thai đang phát triển.

Thực phẩm giàu vitamin B-9 bao gồm măng tây, đậu, đậu Hà Lan, đậu lima, ngũ cốc, nấm, gan, bông cải xanh, nước cam, quả bơ và củ cải xanh.


Vitamin B-12: còn được gọi là cobalamin, cải thiện chức năng hệ thần kinh, sửa chữa thiệt hại dây thần kinh hông, hỗ trợ trong việc tái tạo tế bào, tăng cường cơ yếu, ngăn ngừa co cơ không cố ý, cải thiện phối hợp cơ, giảm viêm và kích thích thần kinh, làm giảm nguy cơ của bệnh thần kinh và làm giảm đau dây thần kinh hông ở lưng và chi dưới.

Thực phẩm giàu vitamin B-12 bao gồm con hàu, cua, cá ngừ, cá hồi, thịt bò, tôm hùm, thịt cừu, gan, pho mát Thụy Sĩ, pho mát mozzarella, pho mát Parmesan, trứng và gan.


Vitamin C tăng cường hệ thống miễn dịch của bạn và bảo vệ dây thần kinh hông của bạn. Vitamin C làm giảm bớt đau dây thần kinh hông, sửa chữa tổn thương thần kinh, tăng tốc quá trình chữa bệnh, cải thiện chức năng hệ thống thần kinh và làm giảm viêm dây thần kinh.

Thực phẩm giàu vitamin C bao gồm cam, bưởi, dứa, cà chua, rau bina, mù tạc, rau bina, dâu tây, anh đào, dưa đỏ và bắp cải.


Cách phòng tránh

- Tránh đứng hoặc ngồi một chỗ quá lâu.
- Tự giữ vững nếu cảm thấy có một cơn ho hay hắt hơi mạnh sẽ đến.
- Thực hiện nâng nhấc đồ vật một cách an toàn.
- Thường xuyên tập thể dục, gồm cả những bài tập co giãn nhẹ.
- Làm nhẹ ví và đừng để nó ở túi quần ngay sau hông.
- Ngủ nằm với một chiếc gối dưới đầu gối hoặc ngủ nghiêng với chiếc gối giữa hai chân.
- Mang giày đúng cỡ, thoải mái...


Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.



lundi 22 septembre 2014

MÔI TRƯỜNG : Tình trạng ngập nước ở Saigon


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Sài gòn là một thành phố ven biển, có địa hình khá bằng phẳng nhưng thấp, chịu tác động trực tiếp của dòng chảy lũ từ sông Đồng Nai, sông Sài Gòn (phía thượng nguồn), đồng thời chịu triều cường từ biển Đông, do vậy thường xảy ra ngập úng, đặc biệt là những năm gần đây. Cơn mưa kéo dài đã làm rất nhiều tuyến đường ở Sài Gòn bị ngập nặng, giao thông và sinh hoạt của người dân bị tê liệt hoàn toàn.


Muốn hiểu về triều cường thì trước hết bạn phải hiểu thủy triều là gì?

Thủy triều là hiện tượng nước biển, nước sông lên xuống trong ngày do ảnh hưởng dưới sức hút của Mặt Trăng, Mặt Trời.

Còn triều cường là lúc dao động của thủy triều lên cao và lớn nhất. Triều cường xảy ra khi Mặt Trăng, Mặt Trời, Trái Đất nằm thẳng hàng nhau. Tức là vào ngày mồng 1 và rằm 15 (âm lịch hàng tháng).


Quy hoạch không hợp lý

Phần lớn rừng đầu nguồn có chức năng điều tiết nước đã bị chặt phá nặng nề; ở cuối lưu vực sông Đồng Nai, Sài gòn dễ bị tác động bởi lũ đầu nguồn tràn về.
Trong cơn bão số vừa qua, mực nước có nơi ngập đến ngang thắt lưng. Có những lúc sắp tới mùa mưa, vậy mà tình trạng ngập úng triền miên vẫn chưa có gì khả quan.

Tình trạng thành phố Hồ Chí Minh hiện nay, thứ nhất là do thành phố nằm trên khu vực đất yếu, đất trũng. Thành ra là kết hợp những đợt mưa, triều cường và thoát nước chậm, sẽ gây úng ngập nhất định.

Lịch sử phát triển thành phố thời gian qua, có giai đoạn phát triển thiếu mô hình phù hợp. Sài Gòn phát triển theo dạng vết dầu loang. Tức là lực thì có hạn, không có tiền để làm đường xá vượt ra ngoài xa. Cuối cùng là do sự phát triển đó, khi gặp những khu vực trũng yếu không thể phát triển đô thị; người dân vẫn đến ở, nhà thầu vẫn cứ xây dựng làm cho những khu vực, thay vì nó được ngấm, hút nước và thoát nước; do phát triển lan tỏa, những khu vực này bị chiếm dụng. Kết hợp với nền đất thấp yếu, vấn đề ngập lụt tất nhiên sẽ xảy ra.

Chỉ hơn 10 năm đô thị hóa, khả năng chứa nước trong thành phố đã giảm gần 10 lần. Theo Trung tâm Nghiên cứu và quy hoạch môi trường đô thị - nông thôn, tình trạng ngập lụt hiện nay tại Sài gòn không phải do những tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu, mà do quản lý đô thị kém. Chính tình trạng chuyển đổi diện tích bề mặt tự nhiên có khả năng thấm 50% nước mưa thành bề mặt đô thị bê tông hóa với khả năng thấm khoảng hơn 10% lượng nước mưa, đã làm gia tăng tình trạng ngập nước ở Sài gòn.

Quá trình đô thị hóa trong hơn chục năm này, đã làm biến mất 47 con kênh. Có thể thấy rằng, tình trạng Sài gòn ngập lụt hôm nay là hậu quả của thái độ chưa quan tâm đúng mức ngay từ khâu hoạch định phát triển đô thị. Vậy đến nay, thực trạng này đã được giải quyết đến đâu ?

Hiện nay tình hình giảm ngập nước vẫn còn đang là lúng túng bài toán hiện trạng. Chính vì vậy mà thành phố có một Trung tâm chống ngập, có quyền đề xuất với thành phố các bài giải về vấn đề chống ngập.

Là một thành phố luôn bị ngập, nhưng hầu hết hệ thống thoát nước cũng như các đê bờ bao của Sài gòn đã cũ kỹ và quá tải. Không ít dự án chống ngập được triển khai, nhưng tiến độ thi công là đáng quan ngại. Chính quyền thành phố đã từng yêu cầu các đơn vị đình chỉ thi công đối với các công trình chống ngập kéo dài có chất lượng yếu kém.

Trong mắt người dân Sài gòn, chỉ cần một cơn mưa lớn, nhiều tuyến đường biến thành sông chẳng còn lạ lẫm. Khi nhắc về trận bão, người dân ở đường Âu Cơ, Tân Phú kể "Mưa thì ngập. Mấy mùa mưa trước, nó ngập lên đến đầu gối luôn. Đường cống chạy chậm quá, tất cả nước đổ ra thì ngập từ ngoài đường tràn vô nhà người ta. Xe người ta đi, nó ngập gần nửa cái bánh xe."  


Dân tự ứng phó

Theo kết luận một cuộc khảo sát, 75% các khu vực bị ngập ở Sài gòn không phải do triều cường cao, mà do khả năng thoát nước của hầu hết hệ thống chỉ đáp ứng lượng mưa thấp. Ban Quản lý dự án chống ngập nước thành phố cho rằng, tất cả các dự án hiện nay đều thiên về giải pháp công trình với mức độ bảo vệ hữu hạn. Vì vậy, dễ bị tổn thương khi đối phó với các biến cố vượt thiết kế.

Cần phải cân bằng giữa biện pháp trực tiếp xây dựng công trình chống ngập với các phương pháp xây dựng ý thức chung. Về biện pháp lâu dài, chúng ta bắt đầu phải có khả năng phát triển hạ tầng kỹ thuật một vài chục km xa hơn, ra khỏi thành phố. Phát triển đường tàu điện, đường giao thông chính thì mới đưa dân ra những chỗ đất cao được. Mở những khu đô thị ở những khu đất cao và đất tốt. Làm sao khuyến khích người dân ở những vùng đất trũng yếu bị ngập nước, người ta sẽ chuyển dịch đến những vùng đất cao. Như vậy trả lại cho thành phố những khu vực đất không phát triển dân cư mà phát triển cây xanh, hồ điều tiết nước.Như thế thì tình hình ngập nước sẽ giải quyết được rốt ráo. Hai việc được tiến hành song song.


Các thông tin giải quyết ngập úng thuộc tầm vĩ mô này, xem ra chưa đến được người dân. Những biện pháp tự ứng phó trong thực tế thì đơn giản hơn. Một người dân SG nói "Tôi đâu có biết ý kiến người ta ra làm sao. Giờ chỉ biết đợi mưa xong, múc nước đổ đi, lau nhà thôi. Người ta làm bờ ngăn cái thềm nhà nhưng mà nước vẫn tràn vô."

Nếu mực nước biển dâng 1 m, nguy cơ sẽ có trên 20% diện tích Sài gòn bị ngập. Khả năng chống ngập của Sài gòn có vẻ chưa đủ ứng phó với tình trạng biến đổi khí hậu. Vấn nạn này khó có thể giải quyết rốt ráo, nếu chưa được xem như là một chính sách an sinh xã hội.


Những quận nào ở Sài Gòn hay bị ngập nước ?

“Điểm mặt” những vùng ngập

Danh mục chính thức về số điểm ngập trên địa bàn Sài Gòn do Sở Giao thông công chính (nay là Sở Giao thông vận tải - GTVT) thống kê từ đầu năm 2008 kết thúc ở một con số hết sức tròn trĩnh : 100 điểm ngập. Trong đó có :

  • 54 điểm ngập do mưa, 
  • 12 điểm ngập do triều và 
  • 34 điểm ngập do mưa kết hợp với triều. 
Nhưng nếu chia theo địa bàn phân bố thì có thể thấy điểm ngập xuất hiện rộng khắp ở các khu vực cả nội thị, vùng ven lẫn ngoại thành, chỉ thiếu quận 3, quận 4, quận 9 và huyện Cần Giờ.

Chỉ riêng khu vực nội thành đã có tới 66 điểm ngập phân bố dọc bốn lưu vực chính gồm :

  • Hàng Bàng (28 điểm), 
  • Tân Hóa - Lò Gốm (15 điểm), 
  • Nhiêu Lộc - Thị Nghè (17 điểm) và 
  • Tàu Hủ - Kênh Đôi - Kênh Tẻ (6 điểm). 
Đáng chú ý là có đến 77,3% số lần ngập hằng năm xuất hiện tại hai lưu vực Hàng Bàng và Tân Hóa - Lò Gốm.

Quan sát trong những năm gần đây cho thấy mỗi trận mưa lớn kéo dài trên 30 phút với lượng mưa khoảng 60mm là điểm ngập đồng loạt xuất hiện, mặc dù có đến hai tiểu dự án kết hợp chống ngập với cải thiện môi trường bằng nguồn vốn ODA tại hai lưu vực này. Trong đó, khu vực bến xe Chợ Lớn - chợ Bình Tây, bùng binh Cây Gõ - Minh Phụng là những địa chỉ ngập nặng, ngập triền miên.

Ở các quận vùng ven, bức tranh ngập nước cũng chưa có dấu hiệu cải thiện. Anh Lê Chí Hùng (nhà ở đường Ba Tơ, quận 8) cho biết công ty anh ở quận 3 nên ngày hai lượt đi về qua đường Phạm Thế Hiển.

Chỉ cần ngang qua cầu Chà Và, nhìn mực nước kênh Tàu Hủ là biết đường Phạm Thế Hiển sẽ ngập ở đoạn nào, sâu bao nhiêu. “Chừng nào đoạn đường từ cầu Nhị Thiên Đường về cầu Bà Tàng triều lên mà không ngập, tui sẽ gọi điện mời nhà báo tới nhà làm gà ăn mừng” - anh Hùng hóm hỉnh. Trong khi đó, dù kênh Nước Đen đoạn thuộc quận Tân Phú đã được bêtông hóa bằng hệ thống cống hộp nhưng vẫn không thoát ngập bởi những cơn mưa lớn. Cũng dọc tuyến kênh này, đoạn thuộc phường Bình Hưng Hòa và Bình Hưng Hòa A (quận Bình Tân) còn bi đát hơn khi nằm ngay rốn ngập Gò Cát.

Tại các quận huyện ngoại thành tình hình cũng không mấy sáng sủa. Sau những cơn mưa hoặc lúc triều cường, người đi đường từ nội thành ra chỉ cần vượt qua được cầu Bình Triệu là lọt ngay vào điểm ngập Kha Vạn Cân (quận Thủ Đức).

Nói là “điểm” nhưng thực tế đường này thường xuyên bị ngập kéo dài từ ga Bình Triệu đến tận cầu Gò Dưa. Đường Lê Văn Lương bị ngập do địa hình chung của huyện Nhà Bè nằm ở dưới dốc, còn đường tỉnh lộ 9 (huyện Củ Chi) cũng đang tồn tại một điểm ngập ở đoạn từ cầu Rạch Tra đến cầu Bà Đế.

Lướt qua danh mục những điểm ngập do cơ quan chức năng TP công bố không khó để nhận ra còn nhiều điểm ngập khác chưa được đề cập. Nếu hỏi người dân, chắc chắn danh mục những điểm ngập sẽ còn được nối dài vượt xa con số 100 điểm ngập theo thống kê của cơ quan chức năng.

Theo danh mục chính thức, quận 2 chỉ có hai điểm ngập trên đường Quốc Hương đoạn trước Trường đại học Văn hóa (phường Thảo Điền) và đường Nguyễn Duy Trinh đoạn từ chợ Giồng Ông Tố đến cầu Xây Dựng.

Không hiểu vì vô tình hay hữu ý, cơ quan chức năng “quên” một vũng ngập khổng lồ đã tồn tại nhiều năm nay là khu vực dọc đường Lương Định Của thuộc phường An Khánh và phường Thủ Thiêm. Muốn tìm chứng tích của vũng ngập này, hãy ghé thăm trụ sở UBND của phường An Khánh và phường Thủ Thiêm. Bất kể giờ nào cũng có thể nhìn thấy ngấn nước còn in hằn trên chân tường, có nơi cao quá gối.

Cách đây không lâu, báo Tuổi Trẻ từng có bài viết đề cập vùng trũng phường Bình Hưng Hòa và phường Bình Hưng Hòa A (quận Bình Tân), nơi giao nhau của kênh Nước Đen và hợp lưu kênh 19-5 với kênh Tham Lương. Chỉ riêng khu phố 5, phường Bình Hưng Hòa (dọc đường Tân Kỳ Tân Quý) từ đầu mùa mưa đến nay đã chịu năm trận ngập nặng, nhất là trận ngập sau cơn mưa chiều 6-9. Thế nhưng trong danh sách cập nhật mới nhất của Trung tâm điều hành chương trình chống ngập nước TP (gọi tắt là Trung tâm chống ngập) do Sở GTVT chuyển giao không thấy nhắc tới khu vực này.

Khó hiểu hơn, các tuyến đường Ung Văn Khiêm, D2 và Điện Biên Phủ (đoạn từ cầu Văn Thánh đến cầu Sài Gòn) thường xuyên bị ngập khi có mưa kết hợp với triều cường cũng không được nhắc đến trong danh mục 100 điểm ngập. Tương tự, một số điểm ngập khác như đường Hồ Văn Tư, Đặng Văn Bi (quận Thủ Đức), đường Nguyễn Xiển (quận 9) và các con đường ở khu dân cư Đồng Diều (quận 8) đều bị lọt sổ.

Những điểm ngập kể trên chỉ là “ngập sỉ” với tần suất xuất hiện dày đặc sau những trận mưa hoặc triều cường. Riêng những điểm “ngập lẻ” với chu kỳ không đều đặn có lẽ không thể kể xiết. Trong số này có thể kể đến những điểm ngập bất thình lình do bể bờ bao, vỡ đê hoặc do các công trình thi công hạ tầng gây ra, nhất là các công trình... chống ngập.

Bức tranh ngập của TP vốn đã loang lổ là vậy những diễn biến gần đây cho thấy tình hình càng có chiều hướng bi đát hơn. Theo Trung tâm chống ngập TP, mùa mưa năm nay các khu vực quanh công viên Hoàng Văn Thụ (quận Tân Bình), đường Phan Văn Khỏe, Mai Xuân Thưởng (quận 6), một số tuyến đường thượng lưu kênh Nước Đen (quận Tân Phú) đã cải thiện về độ sâu, diện tích và thời gian ngập so với năm 2007. Tuy nhiên, tổng hợp báo cáo đến cuối tháng tám, Sở GTVT mới xóa ngập được 5/12 điểm và giảm ngập được 6/14 điểm đã đăng ký thực hiện trong năm 2008.

Trong khi đó, chỉ riêng tháng 7 và nửa đầu tháng 8-2008 trên địa bàn TP đã xuất hiện 16 điểm ngập mới. Điều đáng nói là một số điểm ngập mới này xuất hiện ngay khu vực trung tâm TP như đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa (quận 3), Nguyễn Văn Cừ (quận 5), Lê Lợi, Lê Lai (quận 1)... Đặc biệt, cơn mưa kỷ lục với lượng mưa một số trạm đo được 140mm đã làm “lộ mặt” cùng lúc đến 87 điểm ngập. Trong đó, đường Lê Lợi đoạn từ vòng xoay Quách Thị Trang (trước chợ Bến Thành) đến đường Nguyễn Huệ hiếm khi ngập đã “lặn” sâu hơn nửa mét dưới làn nước.


18 "điểm nóng" về ngập nước ở Sài Gòn

Sở Giao thông Vận tải Sài Gòn vừa công bố danh sách 18 điểm thường xuyên ngập nước và có nguy cơ gây mất an toàn giao thông trên các tuyến đường. Những điểm thường xuyên gây ngập úng tập trung ở các quận: 5, 6, 7, 8, 11, 12, Thủ Đức và Bình Tân. Trong danh sách, Q.Thủ Đức đứng đầu bảng với 6 điểm. Kế đến là Q.Bình Tân xếp vị trí thứ 2 với 3 điểm ngập.

Những điểm ngập đều tập trung ở các trục đường chính có nhiều phương tiện giao thông qua lại. Các tuyến đường: Tỉnh lộ 43, Kha Vạn Cân, Gò Dưa, Đặng Văn Rành, Dương Văn Cam, Hồ Văn Tư (Q.Thủ Đức); Hồ Học Lãm, Kinh Dương Vương, Trần Đại Nghĩa (Q.Bình Tân).


Để khắc phục tình trạng ngập nước, trong năm 2014, Sài Gòn sẽ có thêm 4 cống kiểm soát triều được khởi công xây dựng với tổng vốn đầu tư gần 2.600 tỉ đồng, gồm cống Bến Nghé, Tân Thuận, Phú Xuân và cống điều tiết kết hợp âu thuyền tại cửa rạch Nước Lên.

Các cống kiểm soát triều này sẽ được hoàn thành vào năm 2017, nhằm giảm ngập do triều cho các khu vực vùng trũng nằm dọc hai bên rạch Bến Nghé thuộc quận 1, 4, hai bên kênh Tẻ thuộc quận 4, 7, hai bên sông Phú Xuân thuộc quận 7, Nhà Bè, kết hợp ngăn triều, chống ngập và điều tiết giao thông thủy.


Theo Trung tâm chống ngập, hiện nay TP đang triển khai xây dựng cống kiểm soát triều Nhiêu Lộc - Thị Nghè với tổng vốn đầu tư 290 tỉ đồng từ ngân sách để giảm ngập cho khu vực hai bên kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè thuộc Q.1, Bình Thạnh. Công trình hiện đạt 75% khối lượng, dự kiến hoàn thành và vận hành vào cuối năm 2013.

Cũng theo kế hoạch được trung tâm đề ra, ngoài 4 cống kiểm soát triều được khởi công trong năm 2014, dự kiến sẽ có 3 cống kiểm soát triều khác sẽ được khởi công trong năm 2015 và hoàn thành năm 2017 gồm cống kiểm soát triều Sông Kinh, Rạch Tra và Vàm Thuật. Tổng vốn đầu tư của 3 cống kiểm soát triều này gần 2.300 tỉ đồng.


Sài Gòn ngập do cống thoát nước lỗi thời

Cơn mưa chiều tối 15/8/2014 làm nhiều tuyến đường tại TP.HCM ngập nặng. Nhiều người dân cho biết họ bị thiệt hại tài sản do mức ngập cao hơn những đợt mưa trước.

Ngày 16/8, ông Lư Thanh Lương ở đường Lũy Bán Bích, P.Tân Thới Hòa (Q.Tân Phú) cho biết gia đình ông phải tát nước, lau nhà, rửa bàn ghế đến 22h30 ngày 15/8 mới xong.

Cơn mưa chiều cùng ngày đã làm đường Lũy Bán Bích ngập nặng, nước tràn vô nhà ông và những nhà lân cận gây hư hại nhiều đồ đạc trong nhà. Nhà ông Lương bị nước ngập hơn 20cm, làm hư tủ lạnh và một CPU máy vi tính.

Tàu lửa “nằm đường” vì ngập nước. Sau cơn mưa chiều 15/8, nhiều khu vực gần kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè bị ngập nặng do nước cống tràn lên đường. Một số người dân ở cuối đường Út Tịch (quận Tân Bình) đoạn giáp với đường Hoàng Sa cho biết họ phải dọn nhà đến 20g mới xong do nước mưa, nước cống tràn vào nhà. Ông Lê Tiến Thịnh, nhà ở số 51 đường Út Tịch, cho biết sau khi mưa ngớt thì nước từ cống tràn lên mặt đường gây ngập sâu đến 1m, xe máy “chết” la liệt, taxi không chạy được. Nhà ông Thịnh bị nước tràn vô gây ngập gần 50cm, làm hư hại hai CPU máy vi tính và một số tài liệu. Theo ông Thịnh, lúc đường ngập, nước dưới kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè còn thấp hơn so với mặt đường đến 2m nhưng nước trên đường không có chỗ thoát xuống kênh.

Người dân ở khu vực ngã tư Phan Xích Long - Nguyễn Công Hoan (quận Phú Nhuận) cũng cho hay sau trận mưa ngày 15/8, nước cống tràn lên đường gây ngập mặt đường khoảng 40cm, nặng hơn so với những cơn mưa trước đây. Cơn mưa chiều 15/8 cũng làm ngập tuyến đường sắt đoạn qua cầu Hang ở Q.Gò Vấp khiến chuyến tàu lửa PT1 từ Phan Thiết về Sài Gòn phải nằm ở ga Bình Triệu chờ nước rút. Một cán bộ ga Bình Triệu cho hay nếu tàu chạy trên đường sắt khi nước ngập sẽ dễ bị trật bánh, gây tai nạn nên cơ quan chức năng đã quyết định cho tàu ngừng. Đến 19h5, tàu PT1 mới tiếp tục hành trình về ga Hòa Hưng, trễ ba giờ so với kế hoạch.

Tính từ đầu tháng 6 đến nay, trên địa bàn Sài Gòn có gần chục cơn mưa lớn, nhỏ gây ngập. Những khu vực hay ngập là đường Kinh Dương Vương, Hồng Bàng, Tân Hóa (quận 6), Kha Vạn Cân (quận Thủ Đức), các tuyến đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, Đinh Bộ Lĩnh, Ung Văn Khiêm, D1, D2 (quận Bình Thạnh), Lũy Bán Bích (quận Tân Phú)...


“Tôi thấy những cơn mưa gần đây không lớn nhưng đường vẫn cứ bị ngập. Mà càng ngày nước ngập càng sâu hơn”, ông Trần Đình Nguyên, một người dân ngụ trên đường D1 (quận Bình Thạnh), nhận xét.


Ngập do công trình và mưa quá khả năng thoát nước cống

Theo ông Đỗ Tấn Long, trưởng phòng quản lý hệ thống thoát nước thuộc Trung tâm điều hành chương trình chống ngập Sài Gòn, cơn mưa ngày 15-8 khá lớn, lượng mưa đo được tại trạm Cầu Bông (quận 1) lên đến 79,8mm xuất hiện trong thời gian khoảng 35 phút.

“Thiết kế cống thoát nước ở mức 85mm trong ba giờ mưa. Vì vậy nên nước thoát không kịp, gây ngập tại nhiều khu vực”, ông Long giải thích. Ngoài ra trời mưa vào lúc triều cường đang lên cũng làm hạn chế khả năng thoát nước của các tuyến cống ra sông rạch. Hiện TP đã có nhiều hệ thống đê bao ngăn triều, trạm bơm đi vào hoạt động, phải chăng các công trình này chưa phát huy hiệu quả? Ông Long cho rằng đã có gần 40 trạm bơm đặt tại nhiều khu vực để hỗ trợ bơm nước từ các tuyến cống ra kênh. Nhưng cơn mưa chiều 15/8 có lượng mưa lớn, xảy ra thời gian ngắn nên nước thoát chậm hơn bình thường. Hạng mục trạm bơm (công suất 68 m3/giây) thi công chưa đồng bộ nên chưa phát huy tác dụng chống được tổ hợp mưa lớn kết hợp với triều cường. Ngoài ra, nhiều điểm ngập do bị ảnh hưởng của các công trình đang thi công. Ông Hồ Long Phi, giám đốc Trung tâm biến đổi khí hậu Đại học Quốc gia TP.HCM, cho rằng thiết kế cống thoát nước chịu được trận mưa 85 mm như trên đã được phê duyệt và thực hiện từ trước năm 2000. Cụ thể, theo dự báo trước năm 2000 thì các trận mưa 85 mm sẽ xuất hiện với chu kỳ hai năm lặp lại một lần, các trận mưa 95mm chu kỳ ba năm một lần và những trận mưa 105mm năm năm xuất hiện một lần. Thiết kế khả năng thoát nước này phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cũng như khả năng tài chính trước đây. Tuy nhiên thiết kế cống thoát nước này đã lỗi thời so với hiện tại.


Sau đây là những hình ảnh Sài Gòn ngập nước















Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.