mercredi 1 avril 2015

THẾ GIỚI : Cuộc đời & sự nghiệp của Lý Quang Diệu - Singapore


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Từ một sinh viên luật trở thành thủ tướng đầu tiên của Singapore và tiếp tục có sức ảnh hưởng chính trị lớn sau khi rời ghế, Lý Quang Diệu thực hiện thành công nhiều cải cách, đưa đất nước trở thành một trong những "con hổ châu Á". Là người đưa Singapore từ thế giới thứ ba lên thứ nhất.

Ông Lý Quang Diệu sinh ngày 16/9/1923, trong một gia đình khá giả ở Singapore. Ông học luật tại Đại học Fitzwilliam, thuộc Đại học Cambridge, Anh, sau Thế chiến II và tốt nghiệp với kết quả xuất sắc. Ông trở về Singapore năm 1949 và làm việc cho một công ty luật. Ảnh: Corbis

Người dân tưởng niệm ông Lý Quang Diệu gần bệnh viện Singapore General Hospital ngày 23.3.2015 - Ảnh: Gettty Images. Ông Lý Quang Diệu, cha đẻ đảo quốc Singapore giàu mạnh ngày nay, đã qua đời 3g18 sáng ngày 23/03/2015 ở tuổi 91, không kịp chứng kiến sinh nhật lần thứ 50 của Singapore vào ngày 9/8/2015 tới.

Lý Quang Diệu (16 tháng 9 năm 1923 – 23 tháng 3 năm 2015) là một luật sư được đào tạo ở Anh, ông trở thành thủ tướng đầu tiên của Singapore từ ngày 03/06/1959 tới 28/11/1990, khi đó đảo quốc sư tử giành được quyền tự trị từ tay người Anh. Singapore trở thành một nước cộng hòa độc lập vào năm 1965 sau khi tách khỏi Malaysia.

Ông Lý Quang Diệu sinh ngày 16.9.1923 ở Singapore, là thế hệ thứ 3 của một gia đình Trung Quốc nhập cư tại Singapore. Ông từng sống một thời gian ở ngôi nhà này trên đường Neil Road. Singapore lúc đó là thuộc địa của Anh, nghĩa là ông Lý có quốc tịch Anh và nói tiếng Anh từ nhỏ. Ông đã không nói tiếng Hoa cho đến khi ông 30 tuổi - Ảnh: BBC

Ngô Tác Đống, còn gọi là Goh Chok Tong  sinh ngày 20 tháng 5 năm 1941 là Bộ trưởng cao cấp của Singapore và chủ tịch của Cơ quan Quản lý Tiền tệ Singapore.
Ông cũng từng là thủ tướng thứ hai của nước Cộng hòa Singapore từ ngày 28 tháng 11 năm 1990 tới 12 tháng 8 năm 2004, kế tiếp Lý Quang Diệu.

Mặc dù đã rời bỏ chức vụ thủ tướng, ông vẫn được xem là một chính trị gia có ảnh hưởng nhất tại đảo quốc này. Ông tiếp tục phục vụ trong chính phủ của thủ tướng Ngô Tác Đống trong cương vị Bộ trưởng Cao cấp từ ngày 28/11/1990 tới 12/08/2004.

Lý Hiển Long (Lee Hsien Loong, sinh ngày 10 tháng 2 năm 1952) là Thủ tướng thứ ba của Singapore, từng là Bộ trưởng Tài chính. Lý Hiển Long là con cả của thủ tướng đầu tiên của Singapore Lý Quang Diệu. Vợ của Lý Hiển Long, Ho Ching (Hồ Tinh), là Giám đốc điều hành và CEO của công ty quốc doanh Temasek Holdings.

Cho đến khi qua đời Lý Quang Diệu giữ một chức vụ được kiến tạo riêng cho ông, Bộ trưởng Cố vấn từ ngày 12/08/2004 tới 21/05/2011 dưới quyền lãnh đạo của con trai ông, Lý Hiển Long, thủ tướng thứ ba của Singapore (nhậm chức ngày 12 tháng 8 năm 2004), và là người thứ hai thuộc gia tộc Lý đảm nhiệm cương vị này. Ông còn được biết đến trong vòng thân bằng quyến hữu với tên "Harry".


Khát vọng tuổi trẻ

Sinh trưởng trong một gia đình gốc Hoa 4 đời làm kinh doanh, chỉ mỗi Lý Quang Diệu có xu hướng làm chính trị từ khá sớm.

Ngày 30.5.1959, đảng PAP thắng cử với 43/51 ghế, nắm chính quyền. Ngày 3.6.1959, ông Lý Quang Diệu trở thành Thủ tướng khi mới 36 tuổi và cầm quyền đến 31 năm. Tháng 12.1959, ông sang Anh yêu cầu giao quyền tự chủ cho Singapore, và Anh giữ được quyền kiểm soát các vấn đề quốc phòng và ngoại giao. Ông cũng bắt tay vào một chương trình 5 năm đầy tham vọng với việc dẹp bỏ các khu ổ chuột, xây dựng nhà ở có chất lượng với chi phí thấp, tiến hành công nghiệp hóa và chống tham nhũng - Ảnh: Getty

Ông Lý sinh ngày 16/09/1923 giữa lúc Singapore nằm dưới sự đô hộ của Anh quốc. Được ông nội đặt tên nửa Anh nửa Hoa - Harry Lý Quang Diệu, sau này ông Lý đã làm mọi cách để xóa bỏ phần tên tiếng Anh “mang dấu ấn bạc nhược của một công dân thuộc địa”, như con gái ông là Lý Vỹ Linh từng tiết lộ trên mặt báo.

Học giỏi, Lý Quang Diệu từng đứng đầu Trường trung học Raffles Institute và được học bổng Anderson danh tiếng để học dự bị đại học tại Raffles College của Singapore. Tại đây, ông chọn 3 môn tiếng Anh, kinh tế và toán học để chuẩn bị cho ước mơ học luật nhằm trở thành một luật gia độc lập chứ không đi làm thuê. Chàng thanh niên họ Lý cũng là một người có máu ganh đua ghê gớm. Khi hay tin có một cô Kha Ngọc Chi hơn mình về điểm thi cuối khóa môn tiếng Anh và kinh tế, Lý Quang Diệu vô cùng khó chịu và cảm thấy bất an cho cuộc đua giành học bổng du học duy nhất của Nữ hoàng Anh. Chưa hết, “tôi thường xuyên có cảm giác bị đe dọa, một nỗi sợ bị đè bẹp bởi những người Trung Quốc và Ấn Độ nhập cư vốn chăm chỉ và nhiều năng lượng”, ông Lý tiết lộ trong cuốn hồi ký Câu chuyện Singapore: 1923 - 1965.

Tháng 2.1942, quân đội thực dân Anh đầu hàng quân Nhật ở Singapore. Ông Lý suýt bị vây bắt
và bị giết chết trong vụ thảm sát Sook Ching khiến 50.000 - 100.000 người chết.
Trong thời gian chiến tranh (1942 – 1945), ông làm thông dịch viên tiếng Nhật và kinh doanh mặt hàng keo dán ở thị trường chợ đen - Ảnh: Getty

Nhờ lanh lợi và khôn ngoan, người anh cả trong gia đình có đến 5 anh em không chỉ sống sót qua giai đoạn “chiếm đóng” đen tối dưới ách thống trị của phát xít Nhật từ năm 1942 đến 1945, mà còn kiếm được khá nhiều tiền trong thời gian này. Sau khi Thế chiến 2 kết thúc, chàng trai chưa đầy 23 tuổi này đã dùng tiền kiếm được từ chợ đen để thực hiện ước mơ du học tại “mẫu quốc” vào năm 1946, thay vì trở lại Raffles College tiếp tục học và chờ đợi cơ hội nhận học bổng của Nữ hoàng Anh.

Tháng 9/1950, ông Lý kết hôn với bà Kha Ngọc Chi. Hai người có hai con trai và một con gái.
Trong ảnh, ông Lý bế con trai đầu, Lý Hiển Long vào khoảng những năm 1950. Ảnh: Straitstimes

Xu hướng chính trị bộc lộ khá sớm trong con người Lý Quang Diệu, dù cha chú ông chỉ đam mê kinh doanh, theo tiểu sử gia đình và chính ông tiết lộ tại các cuộc đối thoại công khai. Tham vọng này có lẽ được hình thành trong thời học dự bị đại học khi ông nhận ra “một sinh viên người Malay cùng lớp với tôi sắp trở thành thủ tướng của Malaysia. Anh ta là Abdul Razak bin Hussein, cùng học tiếng Anh và toán như tôi. Anh ta là con nhà quý tộc ở xứ Pahang”, ông Lý kể. Và ngay trong thời gian du học ở Đại học Cambridge, ông Lý đã cùng những sinh viên từ Singapore và bán đảo Malaya tổ chức các sinh hoạt chính trị với mục tiêu sâu xa là xóa bỏ chế độ thuộc địa trên quê hương mình. Tốt nghiệp thủ khoa ngành luật Trường Fitzwilliam năm 1949 với một ngôi sao vinh dự hiếm hoi, Lý Quang Diệu thực tập thêm một năm và về nước vào tháng 8.1950 cùng vợ Kha Ngọc Chi - “đối thủ” năm xưa ở Raffles College - mà ông đã “cưới chui” trong lúc cả hai đang học tại Cambridge, bất chấp lễ giáo phương Đông và quy chế của nhà trường.

Lập thân

Sau khi cùng nhau về nước trong sự cổ vũ của báo chí (Kha Ngọc Chi cũng là thủ khoa ngành luật tại Trường Girton của Đại học Cambridge), cả hai đi làm cho một công ty luật. Tìm việc xong, Lý Quang Diệu một mình đến nhà Ngọc Chi xin phép làm đám cưới khiến cha cô đùng đùng nổi giận. Gia đình Ngọc Chi vốn thuộc diện danh gia thế phiệt, lễ giáo uy nghi, không ai mong đợi một chàng thanh niên 27 tuổi đến ngỏ lời xin cưới con gái mình.

Sau chiến tranh, ông Lý bắt đầu tiếp tục việc học đại học, đầu tiên học tại Trường Kinh tế London và sau đó tại Đại học Cambridge, từ 1946 - 1949. Khi ở Anh, ông kết hôn với bà Kwa Geok Choo,
một học giả và sau là luật sư người Singapore tại một buổi hôn lễ bí mật tại Stratford-upon-Avon, năm 1947 - Ảnh: Getty

Hành động này của Lý Quang Diệu một mặt cho thấy tính cách tự lập và quyết đoán của ông, mặt khác cũng thể hiện mối quan hệ hời hợt với cha đẻ, người lẽ ra phải đi hỏi vợ cho con. Xuyên suốt trong các quyển hồi ký của mình, ông Lý Quang Diệu ít nói về cha, có chăng chỉ là hình ảnh một người cha hay la mắng nhưng không có ảnh hưởng gì lên con cái. Một số người Singapore đương thời quen biết nhà ông Lý từng nói rằng cha ông Lý không có đóng góp gì trong sự nghiệp của con, trái lại nhiều lúc còn khiến con khó xử trong tư thế một thủ tướng. Ông Lý cũng tiết lộ người có ảnh hưởng lớn nhất trong cuộc đời niên thiếu của ông chính là mẹ ông.

Dù vậy, nhà họ Kha cũng đồng ý, và lễ cưới lần thứ hai của Lý Quang Diệu và Kha Ngọc Chi diễn ra trang trọng tại khách sạn Raffles vào ngày 30/09/1950. Đây ít nhất là lần thứ hai Lý Quang Diệu bộc lộ khả năng ăn nói và tài thuyết khách. Lần đầu tiên chính là lúc sinh viên Lý Quang Diệu thuyết phục một loạt giám thị và giáo sư ở Đại học Cambrigde để họ chấp nhận cho người yêu Ngọc Chi sang Anh quốc nhập học sớm hơn 1 năm.

Ông Bà Lý đang chơi cờ tướng với các con tại nhà

Sau khi có con trai đầu lòng năm 1952 là Lý Hiển Long (hàm nghĩa “con rồng vinh hiển”, hiện là Thủ tướng Singapore), ông Lý cùng các cựu du học sinh tại Anh quốc thành lập đảng Nhân dân hành động (PAP) vào cuối năm 1954, tranh cử nghị viên và chính thức bước vào con đường chính trị. Cùng thời gian đó, ông cùng vợ và em trai kế Lý Kim Diệu thành lập Công ty luật Lee & Lee do ông đứng đầu. Ông bà có thêm con gái Lý Vỹ Linh (1955) và con trai út Lý Hiển Dương (1957). Tháng 6/1959, ông thắng cử và trở thành thủ tướng hòn đảo tự trị Singapore, trao quyền điều hành Lee & Lee lại cho vợ và em trai.


Bảo vệ nền cộng hòa non trẻ

Đột ngột tách khỏi liên bang Malaysia năm 1965 trở thành một nền Cộng hòa độc lập, Singapore đứng trước nguy cơ bị xóa sổ bởi thù trong giặc ngoài.

Ông Lý Quang Diệu (trái) gặp Thủ tướng Pháp Jacques Chirac
khi thăm Paris năm 1974 - Ảnh: AFP

Tháng 9/1963, hòn đảo tự trị Singapore quyết định nhập với bán đảo Malaya ở phía bắc, hình thành nên liên bang Malaysia dưới sự hân hoan và ủng hộ của “mẫu quốc” Anh. Tuy nhiên, mâu thuẫn sắc tộc không thể dung hòa giữa người Malay đa số ở phần bán đảo do chính quyền trung ương chi phối và người Hoa đa số ở đảo sư tử dưới sự quản lý của chính quyền Lý Quang Diệu, Thủ tướng Malaysia khi đó là Abdul Rahman đã đề nghị Singapore tách khỏi liên bang. Cay đắng và tự ái, ông Lý có phần nóng vội tuyên bố “chia tay” vào ngày 9/8/1965, lập nên nước Cộng hòa Singapore với 2 triệu dân, đa phần người Hoa. Phát biểu tuyên bố độc lập trong nước mắt, ông Lý nói: “Kể từ hôm nay, ngày 9/8/1965, Singapore sẽ vĩnh viễn là một quốc gia tự chủ, dân chủ và độc lập, được hình thành trên các nguyên tắc tự do và công lý, và mưu cầu ấm no và hạnh phúc cho người dân mình trong một xã hội công bằng và bình đẳng hơn”.

Năm 2008, ông Lý Quang Diệu trả lời phỏng vấn đài CNN rằng
 “Tôi muốn tạo cho Singapore từ ốc đảo ở thế giới thứ ba lên vị trí thế giới thứ nhất” - Ảnh: AFP

Tuy nhiên, cái cam kết “tự chủ, dân chủ và độc lập” trong “ấm no và hạnh phúc” lập tức trở nên quá khó đối với một nhà lãnh đạo 42 tuổi khi ông Lý nhận ra chính sự an toàn của bản thân và vợ con ông còn bị treo trên chỉ mành. “Ngay sau khi chia tách, người cảnh sát giữ nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho tôi đã cảnh báo tôi là kẻ bị ghét số 1 trên các tờ báo, radio và truyền hình tiếng Malay ở Malaysia”, ông Lý kể trong cuốn hồi ký Câu chuyện Singapore: 1965 - 2000. Nguy cơ bị bắt cóc bởi những phần tử cực đoan trong Tổ chức Mặt trận dân tộc thống nhất (UMNO-Ultras) cầm quyền ở Malaysia vốn hằn học trước sự độc lập của Singapore khiến gia đình ông Lý phải sống tạm ở nhiều nơi, có khi phải bao kín cửa sổ bằng thép “như nhà tù”. Bởi sau khi chia tách, lực lượng an ninh tại Singapore chỉ gồm 2 tiểu đoàn lính và cảnh sát gồm toàn người Malay, nhận chỉ đạo trực tiếp từ Kuala Lumpur.


Ngoài ra, cuộc đối đầu giữa Indonesia với sự hình thành liên bang Malaysia (Konfrontasi) cũng là một mối đe dọa an ninh khác. Tháng 3/1965, hai thủy quân lục chiến Indonesia đã đánh bom một tòa nhà thương mại của Singapore khiến 3 thường dân thiệt mạng và 33 người bị thương khiến hai nước mâu thuẫn dai dẳng về sau. Trong khi đó, ngay trong lòng Singapore, một số tổ chức và nghiệp đoàn công nhân hoạt động chống chính quyền, thậm chí tuyên bố “đập vỡ” nền cộng hòa và tiêu diệt Lý Quang Diệu.

Đó là hai nỗi lo lớn nhất khiến ông Lý mất ngủ triền miên trong những ngày đầu lập quốc, khiến vợ ông phải nhờ bác sĩ kê thuốc ngủ cho ông. Giữa lúc đó, chính phủ của Thủ tướng Harold Wilson ở Anh đang bị áp lực nặng nề phải rút hết quân ở phía đông kênh đào Suez, gồm Malaysia và Singapore, theo cam kết quốc tế. Vì vậy, thông tin từ London về việc rút 50.000 lính Anh đang đóng tại Singapore, chậm nhất là đến năm 1971, khiến ông Lý càng thêm bấn loạn. “Trước đây, không ai yêu cầu chúng tôi đẩy người Anh ra khỏi Singapore. Nhưng vì lòng tự đại, chúng tôi đã làm việc đó. Giờ đây, chính chúng tôi phải gánh trách nhiệm bảo vệ an ninh và đem lại sinh kế cho 2 triệu con người... Làm cách nào? Chẳng ai chỉ cho tôi biết phải làm sao”, ông Lý cay đắng.

Tự cứu lấy mình

Nhiều lần thuyết phục Anh duy trì binh lính ở Đông Nam Á không thành, ông Lý quyết tâm cấp tốc xây dựng lực phòng vệ của riêng mình. Ông cầu viện Thủ tướng Ấn Độ Lal Bahadur Shastri, Tổng thống Ai Cập Gamal Abdel Nasser nhờ giúp nhưng đều bị lờ đi. Bí quá, ông Lý phải chấp nhận sự hỗ trợ của Israel, vốn là kẻ thù của người Hồi giáo chiếm tỷ lệ đa số ở Malaysia và kha khá ở tại Singapore.

Chưa hề có kinh nghiệm xây dựng quân đội, và trong số các bộ trưởng cũng không có ai tốt nghiệp ngành quân sự, ông Lý đành cử Bộ trưởng Tài chính Goh Keng Swee làm Bộ trưởng Nội vụ và Quốc phòng (MSD) nhằm tận dụng ít trang bị và nhân lực của lực lượng công an để xây dựng và huấn luyện binh lính. Bên cạnh thiếu kinh nghiệm, Singapore còn vấp phải một vấn đề thuộc về văn hóa, đó là quan niệm của người Hoa “Trai ngoan không đi lính, sắt tốt không thành đinh”. Vì vậy, việc tuyển dụng người Hoa vào quân đội là cực kỳ khó khăn.

Tuy nhiên, bằng nỗ lực tuyển quân và huấn luyện ngày đêm dưới sự hỗ trợ của Úc, New Zealand và Israel, đầu tư đúng trọng điểm, đến năm 1971, Singapore đã có 17 tiểu đoàn lính với 16.000 quân, 72 xe tăng AXM-13 do Pháp sản xuất mà Israel thanh lý giá rẻ, 170 xe quân sự 4 bánh V200, không quân Singapore được tập trận và diễn tập ở nhiều nơi như Brunei, Đài Loan, Úc, New Zealand...

Trong lễ kỷ niệm quốc khánh năm 1969, ông Lý đã cho lực lượng quân sự và các thiết bị đang có trình diễn qua lễ đài khiến Kuala Lumpur bất ngờ và lo lắng. Vào thời điểm ấy, Malaysia chưa hề có xe tăng. “Người dân bang Johor ở miền nam Malaysia, kề cận với Singapore sau khi xem truyền hình và báo chí ngày hôm sau đã lo lắng đặt câu hỏi: Liệu Singapore rồi có tấn công Johor hay không”, một quan chức của Malaysia nói với ông Lý.


Trải thảm đãi người tài

Coi người tài là tài nguyên quý nhất và duy nhất mà Singapore có thể tạo được, ông Lý Quang Diệu đã làm mọi cách để phát huy năng lực và giữ chân họ.

Ông Lý Quang Diệu trong một lần đến thăm Đại học Nanyang hồi thập niên 1960 - Ảnh: STOMP

Vào thời điểm Cộng hòa Singapore ra đời, ông Lý 42 tuổi và đã có 6 năm làm thủ tướng. “Sau nhiều năm nắm chính quyền, tôi nhận ra rằng càng có nhiều người giỏi làm bộ trưởng, quản trị hành chính và chuyên môn, các chính sách của tôi càng có hiệu quả và tạo kết quả tốt đẹp hơn”, ông Lý thổ lộ trong cuốn hồi ký Câu chuyện Singapore: 1965 - 2000. Vì vậy, ông làm mọi cách để có người tài mà ông tin 80% do di truyền từ cha mẹ và chỉ 20% do môi trường và giáo dục đóng góp.

Vài trong những cách đó đã gây sốc cho toàn xã hội và đến giờ ông vẫn mang tiếng là người có tư tưởng thượng đẳng. Ông kêu gọi nam giới tốt nghiệp đại học nên kết hôn với những cô gái cũng tốt nghiệp đại học, thay vì thấp hơn theo quan niệm của hầu hết người Á Đông “đàn ông nên lấy vợ thấp hơn mình một cái đầu”. Lời kêu gọi ông đưa ra trong một bài diễn văn mừng quốc khánh khiến những phụ nữ ít học và cha mẹ họ thấy mình bị coi khinh, phụ nữ học cao bị “chạm vào nỗi đau” ế chồng, các bộ trưởng tài ba có cha mẹ ít học thấy vô lý... Tuy nhiên, nhiều năm sau đó, qua thống kê, tỷ lệ nam giới học cao kết hôn với người ngang bằng có tăng lên. Ông cũng ra chính sách ưu đãi phụ nữ học cao được có con thứ 3, thứ 4 thay vì chỉ “dừng lại ở 2” theo chương trình kế hoạch hóa gia đình để kìm hãm sự gia tăng dân số trước đó. Một lần nữa ông gây tự ái cho những phụ nữ có học.

Thảm đỏ

Phát hiện được tài năng, ông lập tức phân luồng nhằm đào tạo phù hợp với năng lực và sở trường để họ có thể phát huy cao nhất “tinh hoa di truyền”. Bởi vậy giờ đây, ngay khi tốt nghiệp tiểu học, học sinh Singapore đã được phân luồng vào các hệ đào tạo khác nhau, phù hợp với năng lực của từng em. Nhưng đáng để ý hơn cả là chiến lược nuôi dưỡng tài năng lãnh đạo rất bài bản, được thực hiện từ rất sớm. Theo đó, mỗi năm Singapore chọn 10 học sinh tốt nghiệp trung học xuất sắc nhất đưa vào quân đội (SAF). Các sinh viên này sẽ được nhận học bổng du học SAF, cho phép họ học lấy bằng cử nhân hoặc kỹ sư ở những trường đại học danh giá của Anh hoặc Mỹ. Ngoài học bổng đủ trang trải toàn bộ chi phí, họ còn được hưởng lương bằng một trung úy. Sau khi tốt nghiệp, họ phải thực hiện nghĩa vụ bắt buộc 8 năm. Trong thời gian đó, họ tiếp tục được gửi ra nước ngoài để học thêm 3 khóa đào tạo gồm: kỹ thuật quân sự, học tại Mỹ, Anh hoặc cả hai; năng lực chỉ huy quân sự cũng tại Anh hoặc Mỹ; quản lý hành chính công và quản trị kinh doanh tại một trong hai đại học hàng đầu của Mỹ là Harvard và Stanford. Hết hạn, họ có quyền chọn ở lại SAF hoặc ra dân sự, vào bộ máy lãnh đạo nhà nước, quản lý các cấp hành chính hay trở thành doanh nhân. Trong thời gian 8 năm ở SAF, hoặc dài hơn, chính họ là những “bộ óc” lắp vào các “ổ cứng vô tri” mà quân đội trang bị, ông Lý quan niệm như vậy.

Tính đến năm 1995, có 4 người từ chương trình này đứng vào hàng ngũ lãnh đạo đất nước, gồm : chuẩn tướng Lý Hiển Long nay là thủ tướng; chuẩn tướng George Yeo làm ngoại trưởng cho đến khi thôi chức năm 2011; trung tá Lim Hng Kiang nay là Bộ trưởng Công thương; Phó đô đốc Teo Chee Hean nay là Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Nội vụ. Hiện nay, trên chính trường Singapore cũng có một bộ trưởng trẻ, được cho là có họ hàng với ông Lý Quang Diệu, cũng trải qua hành trình tương tự ông Lý Hiển Long, được hy vọng sẽ trở thành lãnh đạo cao nhất trong tương lai.

Ngoài ra, để giữ người tài nhằm đảm bảo một nền hành chính công hiệu quả, ông Lý có chính sách trả lương cao cho nhân viên nhà nước, lên đến hàng triệu USD/năm cho một bộ trưởng. Chính sách này mặt khác cũng có tác dụng ngăn ngừa nạn tham nhũng. Trong khi phương Tây thường chê bai việc trả lương quá cao này, thì Singapore tự hào đã trả công xứng đáng cho những công bộc của dân và giữ họ “sạch sẽ” trước những cám dỗ tiền bạc.

Sớm nhận ra vị trí của Singapore là một trung tâm thương mại, dịch vụ của thế giới, ngay sau khi lập quốc ông Lý đã chọn tiếng Anh làm ngôn ngữ chính thức, thay vì tiếng Malay như hồi năm 1959 trong tâm thế chuẩn bị sáp nhập vào Malaysia. Việc đưa tiếng Anh làm ngôn ngữ giảng dạy tại các trường tiếng Hoa truyền thống gây ra hàng loạt bất đồng trong xã hội. Đình đám nhất là vụ sáp nhập Đại học Nanyang (còn gọi là Nantah) do một doanh nhân gốc Hoa sáng lập năm 1953 vào Đại học Singapore (dạy bằng tiếng Anh) thành Đại học Quốc gia Singapore (NUS) năm 1978, do 12.000 sinh viên tốt nghiệp của Nantah trước đó đã rất khó tìm việc làm. Cơ sở vật chất của Nantah đến năm 1991 được phát triển thành Đại học Công nghệ Nanyang (NTU), cũng đào tạo bằng tiếng Anh. Ngày nay, cả NUS và NTU đều là những trường đại học có thứ hạng trên thế giới.

“Việc dùng tiếng Anh làm ngôn ngữ hành chính đã giúp ngăn xung đột giữa các sắc tộc và cho chúng ta lợi thế so sánh, bởi đó là ngôn ngữ thương mại, ngoại giao và khoa học của cả thế giới”, nhận định này của ông Lý hẳn không ai bắt bẻ được.


Tiến lên kinh tế kỹ thuật cao

Từ một trung tâm thương mại làng nhàng tại khu vực, chỉ trong 20 năm, Singapore đã trở thành một nền kinh tế kỹ thuật cao, được xây dựng bằng uy tín.

Ông Lý Quang Diệu (trái) gặp Tổng thống Mỹ George H.W.Bush năm 1989 - Ảnh: AFP

Ông Lý Quang Diệu từng kể rằng, những ngày đầu lập quốc, quan chức của Cục Phát triển kinh tế (EDB) đi tiếp cận các doanh nghiệp Mỹ để tìm kiếm đầu tư, một số tổng giám đốc còn không biết Singapore nằm ở đâu trên bản đồ thế giới. Ngày đó, Singapore với 2 triệu dân đã là một trung tâm thương mại của khu vực, nhưng hoạt động kinh tế chính chỉ là buôn bán với các nước láng giềng. Sau khi tuyên bố độc lập, Singapore mất đứt hai đối tác thương mại chính là Malaysia và Indonesia. Nạn thất nghiệp gia tăng từ năm 1959 nay đứng trước nguy cơ tăng cao hơn.

Đau đầu tìm mô hình kinh tế mới để đảm bảo đời sống cho dân, ông Lý Quang Diệu cùng các cộng sự và chuyên gia tư vấn người Hà Lan Albert Winsemius đi đến một chiến lược 2 trọng điểm: nhảy cóc lên thẳng nền kinh tế kỹ thuật cao như Israel; và xây dựng một “ốc đảo” với các tiêu chuẩn của Thế giới thứ nhất. Để có nền kinh tế kỹ thuật cao, Singapore phải làm ăn với châu Âu, Mỹ và Nhật Bản, ông Lý xác định.

Tiếp cận doanh nghiệp Mỹ

Tháng 10/1967, ông Lý đến Mỹ, gặp gỡ 50 doanh nhân lớn của nước này tại thành phố Chicago. Khác với tư thế của nhiều lãnh đạo ở những quốc gia non trẻ, ông Lý không có cách tiếp cận mang tính “xin xỏ”, mà là thuyết phục họ đầu tư vào Singapore. Vì vậy, ông tạo được ấn tượng tốt ban đầu.

Mùa thu năm 1968, ông Lý đích thân đến Đại học Harvard “tầm sư học đạo” mấy tháng. Tại đây, ông gặp gỡ và nói chuyện với các giáo sư, doanh nhân, nhà hoạch định chính sách... từ Trường Kinh doanh Harvard đến Trường Hành chính công Kennedy. Giáo sư kinh tế Ray Vernon đã đánh đổ niềm tin bấy lâu của ông Lý rằng các doanh nghiệp công nghệ cao sẽ không bao giờ chuyển dây chuyền sản xuất của mình tại các nước tiên tiến sang các nước Thế giới thứ 3. “Điều đó sẽ xảy ra khi một quốc gia ít tiên tiến có được một lực lượng lao động có kỷ luật, nhanh chóng nắm bắt các kỹ năng làm việc với máy móc, một chính quyền ổn định và hữu hiệu”, Giáo sư Vernon khẳng định. Và ông Lý tin mình làm được.

Cũng trong thời gian này, ông tiến hành nhiều buổi đối thoại với các doanh nhân Mỹ và lấy được niềm tin của họ bằng cách trả lời thẳng thắn và trực tiếp những câu hỏi khó. Và ngay trong tháng 10/1968, Texas Instrument đã mở nhà máy lắp ráp thiết bị bán dẫn, ngành công nghệ tiên tiến khi ấy, tại Singapore. National Semiconductor lập tức theo chân. Ngay sau đó, Hewlett-Packard (HP), đối thủ hạng nặng của 2 công ty trên, đã đưa chuyên gia đến Singapore tiền trạm.

Chủ trương của chính phủ Singapore là chuyển giao sự giàu có cho người dân Singapore dưới hình thức trợ cấp nhà ở và các quyền lợi khác. Thay vì cho tiền trực tiếp người nghèo và thất nghiệp, chính phủ của ông Lý Quang Diệu cung cấp các căn hộ do nhà nước xây dựng với giá cả phải chăng và khuyến khích người dân mua. Ngày nay, 90% hộ gia đình Singapore có nhà riêng, là một trong những tỷ lệ cao nhất thế giới - Ảnh: Reuters

Câu chuyện Singapore đáp ứng ngay lập tức điều kiện ngặt nghèo của chuyên gia HP là một bài học đáng noi theo. Ông Lý kể trong Câu chuyện Singapore 1965 - 2000 rằng : Khi thương lượng địa điểm đặt nhà máy, ông này đề nghị thuê 2 tầng trên cùng của một tòa nhà 6 tầng. Nhưng tại thời điểm ấy, thang máy để nâng các thiết bị hạng nặng lại thiếu một bộ phận chuyển hóa điện. Thay vì cho đối tác đi bộ 6 tầng lầu và hứa hẹn sẽ lắp sau, EDB ngay lập tức kéo một sợi cáp lớn từ tòa nhà kế bên móc vào thang máy. Vào lúc chuyên gia này đến xem tòa nhà mình định thuê, thang máy đã hoạt động, khiến vị khách rất hài lòng và quyết định đầu tư ngay.

Theo chân HP, hàng loạt tập đoàn đa quốc của Mỹ kéo vào Singapore. General Electric (GE) năm 1970 xây 6 nhà máy sản xuất thiết bị điện và động cơ điện. Vào cuối thập niên 1970, GE trở thành nhà tuyển dụng lao động lớn nhất ở Singapore. Bắt đầu từ năm 1975, Singapore đã có thể vô tư loại những nhà đầu tư có phần ngạo mạn, thậm chí to như Công ty xe hơi Mercedes-Benz của Đức đòi chủ nhà phải duy trì vĩnh viễn bảo hộ thuế quan cho họ. Những công ty Mỹ, với tư duy đổi mới công nghệ, sản phẩm liên tục, khiến giá thành sản phẩm hạ xuống, tạo điều kiện cho họ trả lương công nhân cao hơn, đã trở thành thành tố chính yếu của nền kinh tế Singapore.

Môi trường và uy tín

Ngoài môi trường đầu tư tốt, ông Lý còn xây dựng sân bay Changi, con đường nối sân bay đến các khách sạn cao cấp mà doanh nhân nước ngoài thường ở và đường đến Văn phòng Thủ tướng tuyệt đẹp, quang đãng để thuyết phục họ ngay lần đầu tiên đến tìm hiểu đầu tư ở Singapore.

Trong một buổi đón tiếp tại Nhà Trắng năm 2009, Tổng thống Mỹ Barack Obama mô tả ông Lý Quang Diệu là một trong những "nhân vật huyền thoại của châu Á thế kỷ 20 và thế kỷ 21" -
Ảnh: Getty


Ông Lý cũng tâm niệm: “Nếu phải chọn một từ để giải thích cho thành công của Singapore. Tôi nói, đó là niềm tin”. Ông dẫn chứng, khi cuộc khủng hoảng dầu mỏ thế giới xảy ra năm 1973, khiến giá dầu thế giới lên cao, Singapore có thể buộc các công ty lọc dầu nước ngoài như BP, Shell, Esso... giữ lại dầu để cung cấp cho riêng Singapore, nhưng ông đã không làm vậy. “Tôi đã công khai bảo đảm với họ vào ngày 10/11/1973 rằng Singapore chia sẻ việc bị cắt giảm cung cấp dầu như những khách hàng khác theo nguyên tắc chia sẻ khó khăn”, ông nói. Và điều đó nâng uy tín của Singapore đối với nhà đầu tư.

Thủ tướng Lý Quang Diệu tiếp đón Thủ tướng Anh, bà Margaret Thatcher,
đến Singapore vào tháng 4.1985 - Ảnh: AFP


Vào năm 1990, khi ông Lý Quang Diệu thôi chức thủ tướng, Singapore là trung tâm lọc dầu lớn thứ 3 thế giới sau Houston (Mỹ) và Rotterdam (Hà Lan); trung tâm thương mại dầu khí lớn thứ 3, sau New York (Mỹ) và London (Anh); và là trung tâm bơm chuyển xăng dầu đứng đầu thế giới.


Kiến thiết 'ốc đảo' sạch và xanh

Chỉ trong 30 năm, Singapore lột xác thành một “ốc đảo” thịnh vượng hàng đầu thế giới, nơi người dân sống trong an toàn, sạch và xanh theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Người dân Singapore trả lại dù miễn phí, vốn được chính quyền bố trí cho những người xếp hàng chờ vào viếng ông Lý Quang Diệu - Ảnh: AFP

Những năm đầu thập niên 1960, “bộ mặt con người đằng sau những con số thất nghiệp” của xã hội Singapore - như cách ông Lý Quang Diệu nói - thật thảm hại. Hàng ngàn người xếp hàng tại các cuộc tiếp dân của các bộ trưởng, nghị sĩ quốc hội để xin việc làm. Nạn taxi dù, buôn bán vỉa hè tràn lan khiến đường phố hôi hám, lộn xộn, mất an ninh, đặc biệt là sau 2 cuộc bạo động năm 1964 trong thời gian Singapore sáp nhập vào Malaysia.

Sau khi tuyên bố độc lập năm 1965, ông Lý quyết tâm xóa sổ tình trạng này và biến Singapore thành một “ốc đảo Thế giới thứ nhất” để thu hút đầu tư cho một nền kinh tế kỹ thuật cao thịnh vượng. Việc xây dựng cơ sở hạ tầng vật chất chẳng có gì khó, nhưng xây dựng kỷ cương, trật tự xã hội và cải tạo những tập quán của người dân thuộc thế giới thứ ba gian nan gấp ngàn lần, ông nói.

Ai cũng có nhà

Việc đầu tiên Lý Quang Diệu nghĩ đến là làm sao “mỗi gia đình sở hữu được một căn nhà, thì đất nước sẽ ổn định hơn”. Ông triển khai mục tiêu này thông qua Cục Phát triển nhà ở (HDB) và Quỹ lương hưu (CPF). CPF ra đời năm 1955 với mục tiêu tích lũy lương cho tuổi già với mức đóng 5% lương tháng của người lao động và 5% từ người sử dụng lao động, và được rút ở tuổi 55.

Năm 1968, ông Lý cho tăng tỷ lệ lương đóng CPF theo mức tăng tiền lương và tăng trưởng kinh tế, có lúc lên đến 50% lương, đồng thời cho phép người lao động dùng CPF để trả 20% tiền phải đóng mua nhà HDB ban đầu và trả nợ tiền nhà hằng tháng trong 20 năm. Về sau, CPF còn được dùng cho trả viện phí, đầu tư chứng khoán... Việc tăng mức đóng CPF hoàn toàn không dễ chịu đối với người lao động nhưng nhờ đó mà nhiều người mua được nhà, trong khi chính phủ hạn chế được lạm phát đồng thời dùng nguồn này để đầu tư hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng thay vì đi vay nước ngoài.

Trong thời gian cầm quyền, ông Lý Quang Diệu đã đưa Singapore từ một hòn đảo với kinh tế nghèo nàn trở thành một quốc gia giàu mạnh, mức sống cao hơn cả Anh, Mỹ và Na Uy. Năm 1960, GDP bình quân đầu người của Singapore chỉ là 427 USD thì đến năm 2013 là hơn 55.000 USD/người. Ông Lý đã cho lập các khu công nghiệp, trường cao đẳng đào tạo người lao động, xây dựng cơ sở hạ tầng, thu hút doanh nghiệp nước ngoài đầu tư - đặc biệt là cho các công ty điện tử, biến Singapore là một trung tâm xuất khẩu, cảng biển lớn và dần dần là trung tâm tài chính của khu vực và thế giới. Ảnh: Getty

Việc đưa người dân quen sống trong những căn nhà lá có vườn tược vào những khu chung cư HDB là một câu chuyện gian nan dài tập ở giai đoạn đầu. Về sau, đáp ứng đúng hạn nhu cầu mua nhà HDB trong bối cảnh vật liệu, nhân công tăng giá lại là bài toán đau đầu khác. Nhưng đến năm 1996, Singapore có 725.000 căn hộ HDB. Theo thống kê của Quỹ tài chính nhà ở quốc tế năm 2012, Singapore là quốc gia có tỷ lệ sở hữu nhà ở cao nhất trong số các nước phát triển, trên 90%.

Bên đó, Singapore cũng lập các quỹ phù hợp đối với mỗi đối tượng thu nhập như Medisave, MediShield, và MediFund để đảm bảo mọi người đều được chăm sóc khi ốm đau. Tuy nhiên, Singapore không chọn đi theo mô hình bảo hiểm y tế 100% mà buộc bệnh nhân phải cùng chi trả (khoảng 2%) chi phí khám chữa bệnh, để tránh lạm dụng. Ông Lý quan niệm rất thực dụng: “Hệ thống phúc lợi xã hội như phương Tây khiến người dân mất đi tính tự lập”.

Người cười cuối cùng

Chiến lược biến hòn đảo khô khan thành một “thành phố công viên” được ông Lý ấp ủ từ rất sớm và vận động người người trồng cây xanh, trong đó ông là người tích cực nhất. Ông trồng cây ở mọi ngóc ngách dân cư mỗi dịp đến thăm và yêu cầu các bộ trưởng, nghị viên chấp hành theo.

Còn cái “sạch” đầu tiên mà ông Lý Quang Diệu thực hiện là xây dựng một chính quyền sạch tham nhũng bởi ông đã thấy tệ nạn này phá hoại các nước láng giềng ra sao. Từ năm 1960, khi còn là một thực thể tự trị dưới sự bảo hộ của Anh, ông Lý đã cho sửa đổi luật chống tham nhũng, cho phép Văn phòng Điều tra tham nhũng (CPIB) có thể điều tra cả bộ trưởng lẫn thủ tướng. Chưa hết, luật mới còn cho phép coi việc quan chức sở hữu tài sản hay chi tiêu xa hoa quá mức thu nhập là bằng chứng tham nhũng gián tiếp. Và để không đẩy người nhà nước vào con đường tham nhũng, ông Lý áp dụng chính sách trả lương cao cho khu vực công, ngang ngửa với thu nhập họ có thể kiếm được ở khu vực tư nhân.

Để thiết lập trật tự xã hội, ông Lý bãi bỏ hệ thống xử án giết người bằng một nhóm bồi thẩm đoàn, vốn dễ dãi và hầu như “tha bổng 99%” do sợ “quả báo”. Ông tái áp dụng luật đánh roi với các tội hiếp dâm, ma túy, mang vũ khí trái phép, phá hoại tài sản công... bởi ông tin “đánh roi có tác dụng răn đe hơn án tù dài hạn”. Ông cấm đốt pháo, cấm hút thuốc nơi công cộng từ năm 1971...

Nhờ những biện pháp này mà Viện Phát triển quản lý thế giới năm 1997 đã xếp Singapore số 1 về trật tự an ninh bởi “ở đây con người hoàn toàn có thể an tâm về tính mạng và tài sản của họ”.

Trong hồi ký của mình, ông Lý cũng nói rằng báo chí phương Tây không có gì để đưa tin về Singapore nên thường lấy những biện pháp khắt khe của nước này ra làm trò cười. “Nhưng tôi tin rằng Singapore mới là người cười cuối cùng”, ông viết.


Làm bạn với lợi ích

Bất chấp quá khứ hay khác biệt ý thức hệ, vào một thời điểm nào đó, nước nào có thể mang lại lợi ích cho Singapore là ông Lý Quang Diệu hướng đến.

Ông Lý Quang Diệu thăm Khu Công Nghiệp Việt Nam - Singapore năm 2007 - Ảnh: Diệp Đức Minh

Tìm đến Tokyo

Cũng như nhiều nước châu Á khác, Singapore trải qua hơn 3 năm rưỡi đen tối dưới sự chiếm đóng của quân đội Nhật hoàng, từ ngày 15/2/1942. Hàng chục ngàn người Singapore gốc Hoa đã bỏ mạng, đặc biệt là trong cuộc thảm sát kéo dài từ 18/2 – 4/3/1942. Bản thân ông Lý khi ấy đã bị cuộc chiếm đóng dập tắt ước mơ giành học bổng Nữ hoàng để du học Anh quốc và suýt chết dưới họng súng của lính Nhật, ông kể trong hồi ký Câu chuyện Singapore: 1923 - 1965.

Nhưng, vào giữa thập niên 1965, khi Singapore đối mặt nghiêm trọng với nạn thất nghiệp làm xã hội rối ren, ông Lý đã nhìn nhận chính trong giai đoạn bị Nhật chiếm đóng Singapore lại khá trật tự, nạn trộm cắp không hề xảy ra, người dân có thể ngủ mà không cần đóng cửa. Mặt khác, sự trỗi dậy và phát triển thần kỳ của kinh tế Nhật Bản sau Thế chiến 2 đã thôi thúc ông Lý tìm đến Tokyo.

Giảng viên John Curtis Perry dạy lịch sử ngành hàng hải tại Trường Luật và ngoại giao Fletcher của Đại học Tufts (Mỹ) viết trên tờ Wall Street Journal ngay sau khi ông Lý qua đời: “Singapore dưới thời Lý Quang Diệu đã bỏ qua những ký ức cay đắng trong quá khứ để hướng tới những lợi ích tốt đẹp hơn trong hiện tại... Ông Lý đã tìm đến Nhật Bản để tìm hỗ trợ cho ngành đóng tàu và điện tử, và đã thành công trong việc thu hút đầu tư từ nước này để tạo ra nền kinh tế chế tạo có nhiều việc làm”.

“Bình thường hóa” với Bắc Kinh

Trong hồi ký Câu chuyện Singapore: 1965 - 2000, ông Lý viết: “Mối quan hệ Singapore - Trung Quốc rất dài, phức tạp và không bình đẳng”, và ông đã từng không phản hồi thư mời thăm Bắc Kinh của Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1975.

Chu Ân Lai (Chou En-lai) Thủ tướng Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa
(5 tháng 3 năm 1898 – 8 tháng 1 năm 1976)

Cựu phóng viên chiến trường người Singapore Chin Kah Chong nói ông Lý đã 4 lần từ chối các lời mời của Chu Ân Lai trước khi quyết định thăm Bắc Kinh tháng 5/1976, khi biết ông Chu bệnh rất nặng. Chuyến thăm đó chẳng mấy vui vẻ, theo lời kể của cô con gái Lý Vỹ Linh tháp tùng cha trên tờ Straits Times năm 2010.

Đặng Tiểu Bình (Dèng Xiǎopíng) Phó thủ tướng Trung Quốc
(22 tháng 8, 1904 - 19 tháng 2, 1997)

Tuy nhiên, sau khi gặp ông Đặng Tiểu Bình trong cương vị Phó thủ tướng Trung Quốc thăm Singapore vào tháng 11/1978, thái độ của ông Lý đổi khác khi nhận ra ông Đặng là người có tư tưởng cải cách. Cùng 1978, ông Lý mở cuộc vận động người dân Singapore nói tiếng Hoa phổ thông (Mandarin) thay vì dùng cả 7 phương ngữ khác nhau của miền nam Trung Quốc. Mandarin được dạy trong nhà trường với tư cách là “tiếng mẹ đẻ đầu tiên” (bên cạnh tiếng Anh là ngôn ngữ hành chính), thay vì chỉ là “ngôn ngữ thứ hai” như hồi 1965. Các cháu nội của ông Lý sinh vào thập niên 1980 về sau đều mang họ “Li” (phiên âm theo Mandarin) thay vì “Lee” (phiên âm Phúc Kiến) như ông, các con ông và các thế hệ trước. Thật ra, việc mở cửa nền kinh tế dưới thời Đặng Tiểu Bình mở ra nhiều cơ hội làm ăn cho doanh nghiệp Singapore tại Trung Quốc, “đã tạo nên sự thay đổi quyết định trong thái độ của người Hoa Singapore trong việc học Mandarin”, ông Lý lý giải.

Sau chuyến thăm của ông Đặng, các tập đoàn kinh tế lớn của Singapore lần lượt đến Trung Quốc. Nhiều khu công nghiệp, khu đô thị mang thương hiệu Singapore mọc lên ở khắp Hoa lục. Thương mại song phương cũng tăng ngoạn mục. Theo số liệu của Cục Doanh nghiệp quốc tế Singapore (IE), năm 2013 Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Singapore với kim ngạch song phương (xuất nhập khẩu) đạt khoảng 90 tỉ USD, trong khi Singapore là quốc gia đầu tư lớn nhất ở Trung Quốc với tổng vốn 7,23 tỉ USD.

Đối tác chiến lược với Hà Nội

Cựu nhà báo Chin Kah Chong cũng nói rằng : một giai đoạn không mấy hài hòa trong quan hệ giữa Singapore với VN cho tới cuối thập niên 1980. Hồi ký của ông Lý Quang Diệu cũng nhắc đến điều này. 

Thủ tướng Võ Văn Kiệt
(23 tháng 11 năm 1922 – 11 tháng 6 năm 2008)

Nhưng quan hệ hai nước hoàn toàn thay đổi sau khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm Singapore vào tháng 11/1991. Ông Lý đáp lại bằng chuyến thăm VN vào tháng 4/1992, và liên tục trở lại vào tháng 11/1993, 3/1995, và 11/1997... Đối lại, các lãnh đạo VN cũng liên tục thăm Singapore, như Tổng bí thư Đỗ Mười (10/1993), Thủ tướng Võ Văn Kiệt (5/1994), Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh (9/1995), Chủ tịch nước Trần Đức Lương (4/1998)...

Chỉ 1 năm sau chuyến thăm đầu tiên của ông Lý, “trong năm 1992, Singapore là bạn hàng buôn bán lớn nhất của VN với tổng khối lượng hàng hóa lên đến 1,4 tỉ USD”, báo đưa tin ngày 18/11/1993 nhân chuyến thăm VN lần thứ hai của ông Lý Quang Diệu. Rồi 5 khu công nghiệp VN - Singapore (VSIP) lần lượt ra đời trên dải đất hình chữ S. Hợp tác song phương trên nhiều mặt qua một thập niên đã đưa hai nước đến quan hệ đối tác chiến lược vào tháng 9/2013. Tính đến tháng 6/2014, Singapore là nước đầu tư lớn thứ 3 ở VN với tổng vốn 30,5 tỉ USD, thương mại song phương năm 2013 đạt 13,9 tỉ USD.

Nhận định về chính sách ngoại giao “thực tiễn và thực dụng” mà ông Lý chủ trương, ông Chin nói: “Lý Quang Diệu không tôn thờ chủ nghĩa nào, không ngả hẳn theo bên nào. Vào một thời điểm nào đó, nước nào có thể mang lại lợi ích cho Singapore là ông ấy hướng đến thôi”.


Nhận định của Lý Quang Diệu về Mỹ - Trung Quốc - Ấn Độ

Báo giới gọi cố thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu là "Kissinger của phương Đông" và những nhận định của ông về địa chính trị luôn được đánh giá cao.

Cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu phát biểu tại buổi ra mắt cuốn hồi ký One Man's View of the World (tạm dịch: Cách nhìn nhận của một con người về thế giới), năm 2013. Ảnh: Straitstimes

Như nhiều người bước sang tuổi "thất thập cổ lai hy", Lý Quang Diệu rất thích kể về cuộc sống của ông, những kỷ niệm mà ông đã chia sẻ với vợ trong nh ững năm 60 và 3 người con của họ. Tuy nhiên, điểm khác biệt giữa ông và những lão niên khác là việc ông Lý luôn bận tâm tới những thách thức mà Singapore sẽ phải đương đầu khi ông qua đời.



Theo Diplomat, Singapore thực sự là đất nước của Lý Quang Diệu bởi ông chính là người lập quốc và sau đó giữ các chức vụ quan trọng như thủ tướng, bộ trưởng cao cấp và bộ trưởng cố vấn. Sau khi xem cuốn cuốn hồi ký Từ thế giới thứ ba đến Thế giới thứ nhất: Câu chuyện Singapore, nhà báo nổi tiếng Nicholas Kristof nhận định: "Nhiều nhà lãnh đạo đã cố định hình đất nước của họ như Kemal Ataturk ở Thổ Nhĩ Kỳ, Lenin ở Nga hay Đặng Tiểu Bình ở Trung Quốc, nhưng không ai để lại dấu ấn sâu sắc hơn Lý Quang Diệu". 

Ông Lý lo ngại về việc các nhà lãnh đạo Singapore tương lai có thể cho rằng, hòa bình và thịnh vượng của đảo quốc là điều tất yếu. Cựu thủ tướng cũng lo ngại Singapore có thể bị kẹt giữa sự mất lòng tin chiến lược ngày càng tăng giữa hai người khổng lồ châu Á là Trung Quốc và Ấn Độ. 

Nhận định về mối quan hệ Mỹ - Trung Quốc

Cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu trong một cuộc phỏng vấn năm 2009. Ảnh: Singapolitics 

Từ sự tôn trọng mà giới lãnh đạo Mỹ và Trung Quốc dành cho cựu thủ tướng Singapore, giới chuyên gia đặc biệt quan tâm tới nhận định của ông Lý. Trong cuốn sách Lý Quang Diệu: Hiểu biết bậc thầy về Trung Quốc, Mỹ và thế giới, cố thủ tướng Singapore bình luận về mối quan hệ giữa hai quốc gia này.

"Một cuộc cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc có thể xảy ra, nhưng xung đột thì không. Đây không phải là Chiến tranh Lạnh, mà sẽ là sự tranh giành tầm ảnh hưởng. Tôi nghĩ cả hai nước đều phải nể nhau bởi Trung Quốc cần thị trường, công nghệ của Mỹ. Họ cũng cần những sinh viên du học tại Mỹ để nghiên cứu những phương thức kinh doanh nhằm đẩy mạnh sự phát triển", tạp chí Atlantic dẫn nhận định của ông Lý.

Lý Quang Diệu không đồng tình với khái niệm tình trạng suy thoái, vốn dần trở nên phổ biến trong giới bình luận Mỹ. Thay vào đó, người lập quốc của Singapore nhấn mạnh khả năng tái tạo của Washington, cũng như vô số thách thức mà Bắc Kinh phải đối mặt trong khi cố gắng duy trì tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ.


Dự đoán tương lai Trung Quốc

Ông Lý Quang Diệu cho hay, từ tiến trình lịch sử và động lực hiện tại của Trung Quốc, người ta không nên ngạc nhiên trước việc nước này khát khao trở thành bá chủ thế giới.

Theo nhận định của ông, Trung Quốc vốn quen với suy nghĩ rằng, trong một hệ thống quốc tế, người Hoa là trung tâm và các nước láng giềng phải đóng góp cho họ. Ông Lý cũng dự đoán, Trung Quốc sẽ sớm trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới và sẽ gây khó khăn hơn cho quân đội Mỹ trong các hoạt động tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Tháng 5/2011, khi phóng viên hỏi liệu Trung Quốc có thế chân Mỹ để trở thành quốc gia thống trị châu Á và cuối cùng là toàn thế giới, ông Lý trả lời rằng: "Dĩ nhiên. Tại sao không chứ? Họ đã biến một xã hội nghèo đói bằng một bước tiến thần kỳ về kinh tế và nay trở thành nền kinh tế thứ hai trên thế giới. Theo đà này, họ sẽ trở thành nền kinh tế lớn nhất thế giới trong 20 năm tiếp theo".

Năm 1993, trong một bài viết cho tạp chí Foreign Affairs, nhà báo Nicholas Kristof trích lời của cựu thủ tướng Singapore cho rằng, Trung Quốc là đối thủ lớn nhất trong lịch sử thế giới. 3 năm sau, ông Lý nhận định, Trung Quốc có thể sẽ tranh ngôi vị hàng đầu của Mỹ trong 3 thập kỷ tới.


Ấn Độ trong mắt Lý Quang Diệu

Trong cuốn Lý Quang Diệu: Hiểu biết bậc thầy về Trung Quốc, Mỹ và thế giới, cựu thủ tướng Singapore cho hay: "Trong các lần tôi tới thăm Ấn Độ vào năm 1959 và 1962, khi Jawaharal Nehru đang nắm quyền, tôi nghĩ Ấn Độ có triển vọng trở thành một xã hội phồn thịnh và một cường quốc lớn. Đến cuối thập niên 1970, tôi nghĩ họ sẽ trở thành một cường quốc quân sự lớn, chứ không phải một cường quốc mạnh về kinh tế do bộ máy quan liêu cứng nhắc của họ".

Theo "người cha lập quốc" của Singapore, nếu Ấn Độ không trỗi dậy, châu Á sẽ bị nhấn chìm. Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của sự hiện diện của New Delhi trong khu vực hoặc thông qua một sự dàn xếp an ninh địa phương. Đồng tình với tầm nhìn về toàn cảnh thế giới của ông Lý, nhà báo Mỹ Arnaud de Borchgrave gọi nguyên thủ tướng Singapore là "Kissinger của phương Đông". Một điều tình cờ là cựu ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger từng tuyên bố nhiều lần rằng, nhà lãnh đạo thế giới mà ông học hỏi được nhiều nhất chính là Lý Quang Diệu. Kissinger cũng từng nhận định rằng, thế giới sẽ không có một Lý Quang Diệu thứ hai.


Ông Lý Quang Diệu chuẩn bị kỹ cho tương lai Singapore

Singapore - quốc đảo nhỏ bé với 5,4 triệu dân - sẽ như thế nào khi nhà lãnh đạo sáng lập đất nước qua đời?

Cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu. Ảnh: AFP

Sau hơn 30 năm điều hành đất nước ở cương vị thủ tướng, ông Lý Quang Diệu kiến tạo nên một đất nước Singapore tiêu biểu cho sự bứt phá tự lực, trở thành một trong những quốc gia giàu, ổn định và an toàn nhất thế giới.

Người dân Singapore đang được hưởng thụ mức sống ngang tầm với người dân Nhật Bản và các nước tiên tiến ở châu Âu, Bắc Mỹ.

Trong những năm qua, nhằm chuẩn bị cho sự ra đi không tránh khỏi theo quy luật "sinh lão bệnh tử" của cựu Thủ tướng Lý Quang Diệu, Singapore đã lặng lẽ chuẩn bị cho lộ trình phát triển đất nước ở giai đoạn không còn ông Lý Quang Diệu.

4 năm thử nghiệm

Từ năm 2011 khi Lý Quang Diệu rời cương vị cố vấn chính phủ, 4 năm qua Singapore vận hành không có ông Lý trong nội các.

Đảng Hành động nhân dân (PAP)

Theo báo Wall Street Journal, Lý Quang Diệu rời bỏ nội các đúng một tuần sau khi Đảng Hành động nhân dân (PAP) của ông chỉ nhận 60,14% tổng số phiếu bầu trong cuộc tổng tuyển cử. Đây là tỷ lệ thấp nhất kể từ khi đảo quốc giành được độc lập.

Theo nhiều quan chức chính phủ và giới quan sát, tỷ lệ đó phản ánh phần nào phản ứng của công luận trước căng thẳng kinh tế - xã hội dấy lên trong những năm qua tại Singapore.

Cũng từ đó chiến lược ưu tiên phát triển kinh tế của Singapore có những điều chỉnh. Trong các năm qua, người dân có nhiều cơ hội nói lên bức xúc liên quan tới các vấn đề như giá nhà và chi phí đi lại tăng cao, tình trạng nhập cư ồ ạt của lao động nước ngoài và nới rộng khoảng cách thu nhập trong xã hội.

Đảng PAP cam kết tiết chế các mục tiêu phát triển đất nước đặt ra và dành tâm huyết nhiều hơn cho các giải pháp tích cực trong việc chia sẻ thành quả gặt hái được của nhà nước với các tầng lớp công dân thuộc nhóm có thu nhập thấp và trung bình.

Thủ tướng đương nhiệm Singapore và cũng là con trai cả của ông Lý Quang Diệu chính là người chịu trách nhiệm giám sát công cuộc chấn chỉnh này.

Dưới sự điều hành từ năm 2004 của Thủ tướng Lý Hiển Long, chính phủ Singapore nỗ lực tái thiết thương hiệu một trung tâm thế giới về văn hóa và thương mại.

Gần đây, Singapore bắt đầu thực hiện việc áp mức thuế cao hơn với tầng lớp giàu có và tăng ngân sách cho phúc lợi xã hội. Đây được xem là một phần của chiến lược lâu dài nhằm định hình lại kinh tế đất nước và thích ứng với những nhu cầu xã hội đang thay đổi.

Ông Yeoh Lam Keong, nhà kinh tế học và là giáo sư kiêm nhiệm tại Trường Chính sách công Lý Quang Diệu nhận định:

“Với những thay đổi mạnh mẽ trong bối cảnh kinh tế Singapore và một môi trường chính trị có tính đa nguyên hơn, một số tư tưởng và cách thức điều hành của ông Lý Quang Diệu có thể sẽ giảm mức độ ảnh hưởng. Dẫu vậy, những tư tưởng dân chủ xã hội cốt lõi và các mục tiêu mà nhóm lãnh đạo sáng lập của ông ấy (Lý Quang Diệu) theo đuổi chắc chắn sẽ vẫn liên quan tới hôm nay. Đó là việc tìm kiếm cơ hội bình đẳng cho mọi người dân khi tiếp cận với giáo dục, y tế, nhà cửa và các cơ sở hạ tầng chung, những vấn đề liên quan tới chính sách dân số và nhập cư, môi trường liên quan tới tình trạng tăng dân số quá mức”. 

Ông Yeoh cũng khẳng định: “Chắc chắn chúng tôi phải làm nhiều hơn nữa để tập trung vào các nỗ lực nhằm theo đuổi những mục tiêu này”.



Singapore vĩnh biệt ông Lý Quang Diệu

Ngày 29.3, hàng vạn người đứng xếp hàng trên các con đường lớn ở Singapore để vĩnh biệt cựu Thủ tướng đầu tiên của nước này, ông Lý Quang Diệu. Nhiều lãnh đạo trên thế giới đã đến Singapore tham dự lễ truy điệu ông.

Singapore vĩnh biệt ông Lý Quang Diệu - ảnh 1
Người dân Singapore xếp hàng trước tòa nhà Quốc hội Singapore, chờ được vào viếng linh cữu ông Lý Quang Diệu lần cuối vào ngày 28.3 - Ảnh: Reuters

Mọi người xuất hiện từ rất sớm, xếp hàng trên những khu vực dọc theo lộ trình dài 15 km đưa linh cữu  của ông Lý Quang Diệu từ tòa nhà Quốc hội đến Đại học Quốc gia Singapore, nơi lễ truy điệu bắt đầu vào lúc 14 giờ (tức 13 giờ theo giờ VN). 

Theo thông cáo của Bộ Thông tin - Truyền thông Singapore, trong vòng một tuần qua đã có hơn 450.000 người đến tòa nhà quốc hội để viếng nhà lãnh đạo Lý Quang Diệu, trung bình mỗi giờ có 6.500 khách. Hiện tại đây còn lưu giữ hơn 131.000 thiệp chia buồn. Ngoài ra, tính đến sáng 29.3, số người đến tưởng niệm tại 18 địa điểm chính thức do chính phủ lập ra là khoảng 1,1 triệu người.

Ngay sau giữa trưa 29.3, linh cữu của ông Lý Quang Diệu được đoàn xe di chuyển qua những nơi gắn liền với sự nghiệp chính trị 60 năm qua của ông Lý Quang Diệu.

Nhiều lãnh đạo thế giới bao gồm Nhật Bản, Việt Nam, Hàn Quốc, Úc, Ấn Độ, Indonesia … đến tham dự lễ truy điệu ông Lý Quang Diệu tại Đại học Quốc gia Singapore.

Trong quá trình diễn ra quốc tang, một khẩu đội pháo bắn 21 phát, các chiến đấu cơ của Không quân Singapore bay đội hình trên không với một trong những máy bay này tách đội hình, bay đi mất, thể hiện sự ra đi của ông Lý Quang Diệu và những tiếng còi vang lên để cả nước Singapore dành một phút mặc niệm ông.

lundi 23 mars 2015

THỜI SỰ : Kế hoạch đốn hạ 6.700 cây xanh ở TP Hà Nội


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Kế hoạch đốn hạ 6.700 cây xanh ở TP Hà Nội được đưa tin trên nhiều báo Việt Nam và nước ngoài như DailyMail, The Sun Daily và cả trang thông tấn Reuters.

Hà Nội đình chỉ hàng loạt cán bộ liên quan vụ chặt cây

Ai là người chỉ đạo thảm sát cây xanh Hà Nội?

Theo báo kienthuc.net.vn cập nhật vào ngày 21 tháng 3 năm 2015 đã viết như sau :

Chính quyền các cấp của thành phố Hà Nội từ xưa đến nay vẫn nổi tiếng là trì trệ, chậm chạp và độ chuyên nghiệp, năng động thì thua xa các thành phố khác như Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh, Hải Phòng… Bộ máy làm việc của các cấp chính quyền Hà Nội cực kỳ quan liêu, mang nặng tư duy thời bao cấp và đối với dân thì luôn "hành là… chính"!

Tuy nhiên, trong vụ "thảm sát" cây xanh có tổ chức này, thì các cơ quan chức năng liên quan đến "dự án thay cũ đổi mới cây xanh" lại thể hiện một động thái nhanh, quyết liệt, mạnh mẽ và cả… âm thầm.

Chỉ trong một thời gian ngắn mà lực lượng chỉnh trang đô thị đã “chặt phăng” khoảng 2.000 cây, trong đó có rất nhiều cây cổ thụ, cây có giá trị.

Lực lượng này làm việc nhiệt tình chưa từng thấy, làm việc cả ngày lẫn đêm, làm việc dưới áp lực cao (trong tình trạng vừa làm vừa nghe dân chửi).

Điều này cho thấy các lực lượng chỉnh trang đô thị của thành phố cũng “không phải hạng vừa”. Chỉ có điều lâu nay chưa có cơ hội thể hiện!

Vụ chặt 6.700 cây xanh nếu không bị người dân và dư luận chặn lại thì có thể coi là một cuộc “thảm sát” cây chưa từng thấy ở các thành phố lớn. Tuy nhiên, chỉ riêng việc đã chặt phăng 2.000 gốc cây cũng đủ đưa Hà Nội lên “đầu bảng” trong việc chặt phá cây xanh trong cả nước.

Trong buổi họp báo chiều ngày 20/3/2015, Phó chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Quốc Hùng đã thông báo việc ngừng chặt phá cây xanh nhưng lại né tránh tất cả các câu hỏi liên quan đến việc quy trách nhiệm. Lúc này, các cơ quan báo chí mới lôi ra thông tin là chính quyền thành phố chịu “sức ép” từ các nhà tài trợ nên phải khẩn trương làm.

Qua sự khẩn trương và mạnh mẽ lần này, người dân cứ thầm ước ao: Giá mà từ trước đến nay, “các anh ấy” cũng chịu khó thế này thì bộ mặt đô thị Hà Nội đâu có đến nỗi “nguệch ngoạc” như bây giờ.­!

Ai la nguoi chi dao tham sat cay xanh Ha Noi

Người ta không thể không đặt dấu hỏi là tại sao họ lại thảm sát cây "thần tốc" đến vậy. Và trong vụ thay cây này, ai sẽ là người … bán được lắm cây nhất?

Cây xanh, nếu là cây trong vườn nhà anh, thì chặt hạ thế nào là tùy. Nhưng cây trong ngoài đường, bằng tiền thuế của dân từ bao đời nay, là bóng mát, là giữ môi trường, là tạo cảnh quan… thì muốn làm gì cũng phải suy nghĩ, nghiên cứu cho thấu đáo.

Còn như cái ông quan chức nào đó, mở miệng ra bảo "chính quyền làm không cần phải hỏi dân", thì cũng nên cho ông này đi nơi khác. Sao lại có thứ quan chức ăn nói hồ đồ đến vậy?

Có rất nhiều khuất tất trong vụ chặt hạ cây xanh này. Chúng ta hoan nghênh tinh thần thẳng thắn của Chủ tịch UBND TP Hà Nội Nguyễn Thế Thảo, và rất mong ông Chủ tịch cho điều tra làm rõ trách nhiệm của những tập thể, cá nhân trong vụ " thảm sát" cây này.

Điều người dân muốn được biết một cách minh bạch là: Ai là người ký duyệt cho vụ thảm sát cây này? Trước đó, đã có nghiên cứu khoa học nào về việc thay cây này chưa? Một việc lớn đến như vậy mà tới Chủ tịch còn không biết, vậy phải chăng Phó Chủ tịch đã lộng quyền? Số tiền phải bỏ ra thay cây là bao nhiêu? Và số cây này được mua từ đâu? Và cuối cùng là số gỗ của 6.700 cây (nếu được chặt sạch theo đúng kế hoạch) thì sẽ sử dụng thế nào? Bán cho ai?

Và trước những hậu quả đã trông thấy, phải coi đây là một cuộc "phá hoại tài sản, phá hoại môi trường có tổ chức".


Chi phí chặt, đào gốc một cây xà cừ lên đến 35 triệu đồng

Không tính tiền vận chuyển, công đào một gốc cây xà cừ đường kính 120 cm là 10 triệu đồng, công cưa chặt là 25 triệu đồng.

Theo báo vtc.vn cập nhật vào ngày 23 tháng 3 năm 2015 đã viết như sau :

Theo đơn giá thanh toán sản phẩm dịch vụ công ích đô thị năm 2015 cho lĩnh vực duy trì công viên cây xanh, được áp dụng từ ngày 1/1/2015, các chi phí cho việc cắt tỉa cây, giải tỏa cây đổ, chặt hạ, đào gốc cây xà cừ có đường kính trên 120 cm đều ở mức trên 10 triệu đồng.

Cụ thể, để chặt hạ một cây xà cừ có đường kính trên 120 cm, ngân sách thành phố sẽ chi 25 triệu đồng tiền chặt, 10 triệu đồng tiền đào gốc. Cũng với đường kính như trên, nếu chỉ cắt tỉa không sử dụng xe nâng thì chi phí là 13,3 triệu và trường hợp giải toả cây gãy đổ là trên 10 triệu đồng.

Theo đơn giá của Hà Nội, việc đào gốc xà cừ có đường kính 120 cm 
được tính phí 10 triệu đồng. Ảnh: Quý Đoàn.

Tại cuộc họp cuối tháng 1 của Sở Xây dựng Hà Nội về việc chặt hạ cây xanh trên tuyến đường Nguyễn Trãi - Trần Phú để phục vụ thi công đường sắt trên cao Cát Linh - Hà Đông, đại diện Sở Xây dựng, Công ty TNHH MTV công viên cây xanh khẳng định quy trình chặt hạ, đo đếm củi gỗ, đấu giá rất chặt chẽ và không có thất thoát.

Khi được hỏi về quy trình, giá một mét khối củi gỗ, ông Trần Trọng Hiếu, Trưởng phòng quản lý Hạ tầng, môi trường và công trình ngầm (Sở Xây dựng) cho hay việc thu hồi củi gỗ cây bóng mát sau khi chặt hạ được liên ngành kiểm tra, sau đó trừ vào quyết toán. “Quy định của nhà nước là chặt chẽ, chắc chắn không có thất thoát”, ông Hiếu nhấn mạnh.

Phó tổng Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Công viên cây xanh Hà Nội Nguyễn Xuân Hưng cho biết, về nguyên tắc cây xà cừ cao bao nhiêu, đường kính thế nào thì sẽ tương ứng bao nhiêu mét khối gỗ. Công ty có 3 bộ phận liên quan phối hợp đo đếm tại hiện trường về số lượng, dài rộng đường kính, đoạn nào sâu, không sâu… sau đó mới đưa ra thống nhất.

Theo ghi nhận của PV VTC News, nhiều cây xà cừ
có đường kính hơn 1 mét, không bị sâu mục.

Ông Phó tổng giám đốc công ty cây xanh cho hay, củi gỗ thu hồi công ty không được tổ chức đấu thầu. Giá trị một mét khối gỗ tùy theo từng thời điểm trung tâm thẩm định giá Sở Tài chính đưa ra. “Sau một quý, thường là 3 tháng. 

Công ty báo cáo Sở Tài chính, Sở giới thiệu một công ty đấu thầu, công ty này đứng ra tổ chức thông báo các tổ chức, cá nhân muốn mua củi gỗ đến đấu thầu. Tiền đấu thầu thu được sau đó nộp vào ngân sách”, ông Hưng nói về quá trình bán củi gỗ sau khi bị chặt hạ.

Thống kê của Sở Xây dựng, cây xanh Hà Nội được trồng trên 500 tuyến phố với hơn 100 loài trong đó 25 loài có số lượng lớn như xà cừ (5.000 cây), muồng (5.500), bằng lăng (5.500), sấu (2.200)... Theo Sở Xây dựng Hà Nội, từ đầu năm đến nay, đã có 500 cây các loại bị chặt hạ.


Báo quốc tế đồng loạt đăng vụ chặt 6700 cây xanh Hà Nội

Theo báo kienthuc.net.vn cập nhật vào ngày 21 tháng 3 năm 2015 đã viết như sau :

Kế hoạch đốn hạ 6.700 cây xanh của TP Hà Nội được đưa tin trên nhiều báo nước ngoài như DailyMail, The Sun Daily và cả trang thông tấn Reuters.

Giới truyền thông nước ngoài đã đồng loạt đưa tin về việc thành phố Hà Nội hoãn kế hoạch đốn dỡ hàng nghìn cây xanh vào hôm 20/3/2015 sau khi kế hoạch này gây bất bình cho dư luận vì lo ngại có thể ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị.

Báo quóc té dòng loạt dang vụ chat 6700 cay xanh HN

Trang Daily Mail dẫn lại từ trang thông tấn Reuters về kế hoạch
đốn hạ 6.700 cây xanh tại Hà Nội. 

Cụ thể, trang thông tấn Reuters đã đưa tin về kế hoạch này, sau đó được trang The Daily Mail dẫn lại với tiêu đề: “Thủ đô Việt Nam đảo ngược kế hoạch chặt đốn cây do phản đối của người dân”.

Tin này cho hay: tuần này, các phương tiện truyền thông xã hội đã đi vào chỉ trích khi thành phố bắt tay vào chặt 500 trong tổng số 6.700 cây xanh trong thành phố được mệnh danh là “Paris của châu Á”. Tin tức về việc UBND thành phố Hà Nội hoãn lại kế hoạch này đã trở thành bản tin nóng trên các phương tiện vào trưa 20/3/2015.

“Chủ tịch Nguyễn Thế Thảo đã yêu cầu Sở Xây dựng Hà Nội cũng như các sở ban ngành ngừng việc đốn hạ cây,” theo đài truyền hình VTV thông báo.

Báo quóc té dòng loạt dang vụ chat 6700 cay xanh HN-Hinh-2

Trang The Sun Daily của Mỹ cũng đăng tin về kế hoạch chặt hạ cây xanh của Hà Nội.

Trước đó, tờ The Sun Daily của Mỹ cũng đăng tin về kế hoạch chặt 6.700 cây xanh tại Hà Nội vấp phải sự phản đối của công chúng vào thứ 5 (19/3/2015).

Tờ báo còn nhắc đến trang Facebook có tên “6.700 người vì 6.700 cây xanh” được lập ra nhằm mục đích phản đối kế hoạch này. Trang Facebook trên đã nhận được 23.000 lượt thích chỉ trong 3 ngày.

Chủ tịch UBND Thành phố Hà Nội đã xem xét lại kế hoạch xây dựng sau khi dư luận có nhiều phản ứng tiêu cực. Nhiều ý kiến cho rằng điều này gây lãng phí và ảnh hưởng đến màu xanh của thành phố. Trong khi đó, có ít nhất 500 cây xanh trên đường phố thủ đô Hà Nội đã bị đốn hạ.


Đề án chặt hạ 6.700 cây xanh: Đừng chỉ thanh tra ra những “con kiến”

Băn khoăn về đề án chặt hạ 6.700 cây xanh ở Hà Nội, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Phạm Sỹ Liêm đánh giá vụ việc còn ẩn chứa nhiều điều không ổn. “Mong rằng việc thanh tra mà Hà Nội đang triển khai đừng chỉ tìm ra những con kiến”.

Theo báo dantri.com.vn cập nhật vào ngày 23 tháng 3 năm 2015 đã viết như sau :

Chiều nay 23/3, hội thảo “Từ đề án 6.700 nhìn lại quy hoạch cây xanh Hà Nội” đã được Trung tâm Con người và Thiên nhiên phối hợp với Trung tâm Truyền thông Giáo dục Cộng đồng thuộc Liên hiệp các hội khoa học kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) tổ chức.

“Chưa hiểu hết về chức năng của cây xanh”



 Nguyên Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Phạm Sỹ Liêm ví đề án
6.700 cây xanh như một cuộc "thảm sát Mỹ Lai với cây cối"

Theo TS. Phạm Sỹ Liêm - Phó Chủ tịch Tổng hội Xây dựng Việt Nam (nguyên Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội) - qua đề án 6.700 cây xanh và những phát biểu của lãnh đạo các đơn vị liên quan vừa qua cho thấy “họ chưa hiểu hết về chức năng của cây xanh đô thị, tác dụng và tác hại của nó”.

“Cây cối như một người bạn với con người, cùng sinh ra và lớn lên. Thế mà cùng được 40-50 tuổi rồi mà chặt hàng loạt cây xanh như thế... Cây cối còn như một chứng nhân lịch sử, qua thời gian biết được nhiêu chuyện, ghi được nhiều chuyện. Thế giới người ta chỉ cần lấy một mẫu khảo cổ thì đã có thể đọc vanh vách thời đó như thế nào rồi cơ mà”- TS Liêm phân tích.

Chưa hết, nguyên Phó Chủ tịch UBND TP Hà Nội Phạm Sỹ Liêm còn rất băn khoăn về việc Hà Nội phê duyệt cho một loạt đơn vị không hề có liên quan, chuyên môn nào về trồng cây xanh như Công ty tư vấn xây dựng đầu tư Hà Thành, Công tyTNHH MTV Cơ điện công trình, Công ty CP Công nghệ thương mại Bình Minh.

“Tôi nghe nói một cây sấu như thế đã có giá tới 30 triệu đồng rồi, nhẩm tính sơ sơ số tiền họ đốn hạ mang bán thì cũng được rất nhiều tiền rồi. Nhưng lại mua một cây mới trồng vào đấy, lại tốn bao nhiêu tiền nữa. Chặt cây cũ, trồng cây mới thì gọi là tài trợ, không lấy tiền nhà nước ư? Nghe chừng không ổn. Những cái này diễn ra, chúng ta không nên ngây thơ quá về sự vụng về, thiếu hiểu biết, hay kém kinh nghiệm. Đều có sự đo đếm hết, không phải tự nhiên mà như vậy đâu. Tôi mong rằng việc thanh tra mà Hà Nội đang triển khai đừng chỉ tìm ra những con kiến”- ông Liêm thẳng thắn.

“Cây cũng như người, bị bệnh phải chữa chứ không thể đem chôn”

GS.TSKH Phạm Ngọc Đăng - Phó Chủ tịch Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam - cho biết trước đây ông từng được mời tham tham gia vào đề án đánh giá tác động môi trường cho dự án đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông.

“Trong đề án đó không hề nhắc tới việc phải chặt hạ hàng cây xà cừ dọc hai bên đường Nguyễn Trãi”- ông Đăng công bố thông tin gây sốc.

Theo ông Đăng, khi thi công tuyến đường sắt đô thị Cát Linh - Hà Đông, nếu thấy không chặt cây hàng cây dọc đường Nguyễn Trãi sẽ không thể thi công được thì phải thành lập hội đồng đánh giá, lập hồ sơ và gửi tới Bộ Tài nguyên- Môi trường thẩm định; được phê duyệt thì mới được thực hiện.

Trong khi đó, luật sư Trần Vũ Hải (Công ty Luật Hà Nội) khẳng định: Luật Thủ đô do chính Hà Nội đề xuất, xây dựng để rồi Quốc hội thông qua đã có điều khoản cấm chặt phá cây xanh, trừ trường hợp bất khả kháng.

“Chúng tôi nghiên cứu thì thấy việc chặt phá cây xanh vừa qua còn không cấp phép. Họ chỉ sử dụng toàn công văn để chỉ đạo. Từ đầu tới cuối, họ không làm theo luật lệ nào cả. Tôi nghiên cứu mãi các văn bản liên quan mà không biết họ áp dụng theo luật nào”- luật sư Hải nói.

GS. Nguyễn Lân Dũng - Chủ tịch Hội các ngành sinh học Việt Nam - nói rằng việc cây xanh bị bệnh là chuyện hết sức bình thường, vấn đề là cứu hay không cứu.

“Cây cũng như con người, bị bệnh thì phải cứu chữa, chứ không thể đem chôn ngay được. Tôi đi nhiều nước trên thế giới thấy họ cũng luôn tìm mọi cách để cứu cây, chứ không phải cứ thấy câu sâu bệnh là chặt hạ ngay”- GS. Dũng nói.

“Tôi có may mắn đi được 30 thủ đô các nước, không có thủ đô nào như ở Hà Nội ta. Khi mở rộng Thủ đô Hà Nội tôi đã trình bày và ngạc nhiên vì Thủ đô mình lớn thứ 3 trên thế giới chỉ sau Bắc Kinh (Trung Quốc) và Tokyo (Nhật Bản). Thủ đô của ta quá lớn, so với các nước quá đẹp vì hồ và cây. Chúng ta thấy nhiều thủ đô hoành tráng, nhưng cây xanh thì thua chúng ta. Nhưng hồ thì chúng ta biết rồi, chúng ta đã mất rất nhiều hồ. Trước đây làm gì có chuyện ngập lụt đâu, thế mà giờ đã có việc ngập nước tới bụng, ngập cả xe đạp. Đau đớn lắm rồi, nhưng giờ lại tính chặt tới 6.700 cây xanh, tức là 1/7 tổng số cây ở Hà Nội. Tôi thử tưởng tượng rằng nếu đầu tôi rụng mất 1/7 tóc đi thì thành cái đầu hói mất rồi”- GS. Nguyễn Lân Dũng đưa ra hình ảnh so sánh.

TS. Phó Đức Tùng - nguyên Chủ nhiệm bộ môn Lâm nghiệp đô thị (Đại học Lâm nghiệp) - đặt câu hỏi: “Tại sao những cây xanh ở Hà Nội yếu, bệnh tật? Đó là vì Hà Nội chưa bao giờ trồng cây đường phố đúng kỹ thuật cả. Trồng cây đô thị khác hẳn với các loại cây ở nông thôn, đồi núi, không phải cứ khoét khoét đất lên rồi trồng cây xuống như thế được. Nếu trồng như thế thì cây mới không thể có khả năng phát triển bằng một cây cũ được. Với điều kiện trồng, chăm sóc như thế thì một số cây vô giá trị như Hà Nội nói (cây nông, dâu da xoan, gòn,…) cũng có giá trị; không loại cây nào có thể sống được ngoài những cây vô giá trị ấy. Tương tự như việc không thể diệt hết cá rô phi trên sông Tô Lịch để thả vào đó những con cá chép rồng đắt giá được”.

Đã chặt 500 cây, 1.000 hay 2.000 cây?

GS Nguyễn Lân Dũng nói thêm: “Con đường từ Ngã Tư Sở vào Hà Đông dài hơn 11 km nhưng nói như GS. Đăng thì không nằm trong quy hoạch của tuyến đường đó, không cần phải chặt hạ khi triển khai dự án đường sắt đô thị. Thế thì càng phải thanh tra, làm rõ việc này. Nghệ sĩ Chiều Xuân đã phải khóc để kiên quyết giữ cây xanh trước cửa nhà trên đường Nguyễn Thái Học, rồi bao nhiêu văn nghệ sĩ đã lên tiếng, bao nhiêu bài vè, bài thơ đau đớn về chuyện này. Tôi cho rằng phải đặt ra chuyện truy cứu trách nhiệm của những người đề xuất chủ trương này, chứ không thể dừng lại kiểm điểm, ngừng công tác để kiểm điểm được”.

GS. Nguyễn Lân Dũng cho biết lãnh đạo Hà Nội nói rằng đã chặt hạ 500 cây nhưng ông lại nghe được thông tin nói rằng đã có hơn 1.000 cây bị chặt.



Hà Nội nói đã có 500 cây bị chặt hạ
nhưng các chuyên gia, nhà khoa học không tin con số này. 

Trong khi đó, luật sư Trần Vũ Hải nhẩm tính: Đường Nguyễn Chí Thanh đã chặt hạ gần 400 cây, đường Nguyễn Trãi 500 cây là thành 900 cây rồi nên con số Hà Nội đưa ra rất đáng ngờ.

“Tôi có người bạn đã đi lòng vòng qua nhiều tuyến phố và thấy phố nào cũng có gốc cây bị chặt hạ. Người bạn này đã nhẩm tính phải có khoảng 2.000 cây bị chặt hạ rồi chứ không thể là 500 cây được. Tàu điện trên cao đường Nguyễn Trãi mấy năm nữa mới xong mà các anh ấy đã chặt hết sạch, trước cả kế hoạch. Về mặt luật pháp hoàn toàn không thấy cơ sở pháp lý nào cả. Chính vì thế việc thanh tra của Hà Nội phải có sự tham gia của nhiều tổ chức, đoàn thể để giám sát thì mới minh bạch được”- ông Hải nói.

GS. Nguyễn Lân Dũng đề nghị việc thanh tra chuyện chặt cây ở Hà Nội phải để Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo, vì đến nay truyền thông các nước lớn trên thế giới đều đã lên tiếng cả rồi nên không thể để Hà Nội thanh tra.

Cây trên đường Nguyễn Chí Thanh là cây mỡ, không phải vàng tâm

TS. Nguyễn Tiến Hiệp - Trung tâm Bảo tồn Thực vật Việt Nam - cho biết đã lấy mẫu cây trồng trên đường Nguyễn Chí Thanh đem về nghiên cứu.



TS. Nguyễn Tiến Hiệp (đứng) khẳng định cây trồng trên
đường Nguyễn Chí Thanh là cây mỡ chứ không phải vàng tâm.

“Chắc chắn đó là cây mỡ chứ không phải cây vàng tâm. Mà là cây mỡ bình thường, gỗ không tốt đâu, nó là nguyên liệu trồng để làm giấy ở vùng Tuyên Quang, Yên Bái, đường kính 20cm đã cưa rồi. Bộ lá của nó thưa, nó không thể thích hợp ở đây được. Tôi dự đoán khả năng chết rất cao, bởi điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu không phù hợp. Hà Nội có lúc nắng nóng tới 40-45 độ thì khả năng chết rất cao”- ông Hiệp nói.

GS. Nguyễn Lân Dũng bình luận thêm: “Anh Hiệp là chuyên gia trong lĩnh vực này thì nói chính xác rồi. Tôi thì cho rằng 10 năm nữa nó cũng chắc chắn không có bóng mát đâu, bởi cành nó bằng ngón tay thôi. Chúng ta không nên quan tâm hàng cây trồng trên đường Nguyễn Chí Thanh là cây vàng tâm hay mỡ, bởi cả 2 loại cây này đều không phù hợp để làm cây xanh ở Hà Nội. Ở đây không phải đất chua, không có chất mùn và nhiệt độ cao thì làm sao có thể trồng được 2 loại cây đó chứ”.


Một trong những đường đẹp nhất Việt Nam trước và sau khi chặt cây

Theo báo news.zing.vn cập nhật vào ngày 23 tháng 3 năm 2015 đã viết như sau :

Nhìn từ trên cao, đường Nguyễn Chí Thanh, con đường từng được bình chọn đẹp nhất Việt Nam, nay trơ trụi, không còn màu xanh đầy sức sống như trước.

 

 
 Nguyễn Chí Thanh từng được bình chọn là tuyến đường đẹp nhất Việt Nam trong một cuộc thi do Bộ Giao thông vận tải tổ chức. Tuy nhiên, những hình ảnh và ký ức đẹp đẽ về con đường này sẽ chỉ còn là hoài niệm.

 

 

 

 


THẾ GIỚI : Hơn 10.000 người Pháp ký tên phản đối chính phủ chặt cây

Theo báo tuoitre.vn cập nhật vào ngày 22 tháng 3 năm 2015 đã viết như sau :

Hơn 10.000 người Pháp đã ký vào hai bản kiến nghị phản đối việc chính phủ lên kế hoạch chặt bỏ cây xanh nằm quá gần đường quốc lộ để ngăn chặn nguy cơ tai nạn giao thông.

Một đường có hai hàng cây ở vùng nông thôn Pháp - Ảnh: Telegraph

Theo báo Telegraph, nhà chức trách Pháp cho biết cây cối nằm sát đường quốc lộ ở các vùng nông thôn là nguyên nhân gây tai nạn giao thông. Ước tính mỗi năm có 400 người ở Pháp chết vì đâm xe vào cây.

“Trên những con đường có hàng cây, một sai lầm nhỏ cũng có thể dẫn đến tai nạn chết người” - ông Chantal Perrichon thuộc Hội đồng An toàn đường bộ quốc gia khẳng định.

Mới đây Bộ trưởng Nội vụ Pháp Bernard Cazeneuve yêu cầu chính quyền các địa phương lên danh sách các con đường có hàng cây để xử lý. Trên thực tế, luật Pháp cấm trồng cây cách đường 1,5m và thời gian qua nhà chức trách đã chặt hàng ngàn cây trồng quá gần đường.

Tuy nhiên kế hoạch mới của Bộ Nội vụ có thể khiến nhiều ngàn cây bị chặt bỏ. Và đã có hơn 10.000 người ký vào đơn kiến nghị phản đối kế hoạch này. Họ cho rằng cây xanh đóng vai trò sinh thái quá quan trọng và trên thực tế giúp giảm tai nạn giao thông.

“Cây xanh đóng vai trò thiết yếu đối với sức khỏe người dân” - ông Georges Cingal, thành viên Ủy ban Môi trường và xã hội châu Âu (CESE), người viết một trong hai đơn kiến nghị, khẳng định. Ông cho biết theo một nghiên cứu của Anh, các hàng cây có thể giúp người lái xe xác định tốc độ, phát hiện các điểm đường cong…

Chuyên gia giao thông Chantal Pradines của Hội đồng châu Âu cho rằng cây xanh trên đường quốc lộ ở Pháp đã đạt đến độ tuổi không thể thay thế và có tầm quan trọng lớn về môi trường sinh thái, do đó không thể chặt bỏ.


Bình luận

Cây xanh có ý nghĩa vô cùng quan trong như hấp thụ khí CO2 và thở ra oxy cho con người. Vì vậy, việc chặt hạ hàng ngàn cây xanh, làm mất đi thảm xanh của thiên nhiên, chắc chắn sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến con người, nhiệt độ, nhất là trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp và ô nhiễm không khí đang ngày nhức nhối hơn.

Đối với Hà Nội, từ trước đã được cộng đồng thế giới biết đến là thành phố xanh với nhiều dãy cây cổ thụ được trồng cách đây cả trăm năm. Chính các cây xanh này cũng đã góp phần tạo nên một Hà Nội thanh lịch, hài hòa giữa thiên nhiên và môi trường.

Một điều nữa chúng ta cần phải nghĩ là, nếu việc chặt cây chúng ta làm không tốt có thể sẽ ảnh hưởng đến việc giáo dục. Bởi từ nhiều năm nay, Nhà nước đã có chủ trương kêu gọi toàn dân trồng cây, trồng rừng. Chủ trương này cũng đã được đưa vào giáo dục trong các trường học nhằm hướng tới mục đích bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Như Trung Quốc, thời gian qua ô nhiễm không khí, khói bụi đang ảnh hưởng rất lớn đên cuộc sống của người dân. Trước thực trạng này, Trung Quốc đã kêu gọi nhân dân trồng rừng, trồng cây để giảm ô nhiễm. Việc này cho thấy, cây xanh rất có ý nghĩa đối với cuộc sống. Đây là một bài học mà chúng ta cần phải ghi nhận và rút kinh nghiệm trước khi nghĩ đến việc đánh đổi cây xanh./.





vendredi 20 mars 2015

BLOG : Cuộc đời của 4 đại gia Sài Gòn thời xưa


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Vào cuối thế kỷ 19, Sài Gòn - Chợ Lớn nổi lên bốn vị phú hộ có gia sản kếch xù, được mệnh danh là "Tứ đại phú hộ" mà tiếng tăm còn truyền lại đến bây giờ qua câu nói dân gian "Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Định" (Huyện Sỹ - Tổng đốc Phương - Bá hộ Xường và Bá hộ Định). 


Huyện Sỹ - Lê Phát Đạt: Giàu hơn vua Bảo Đại

Nhất Sỹ tên thật là Lê Phát Đạt (1841-1900) được phong huyện hàm nên gọi là Huyện Sỹ, một trong những người giàu nhất Sài Gòn vào nửa đầu thế kỷ 20. Cháu ngoại ông là Nguyễn Hữu Thị Lan, vợ vua Bảo Đại, tức Nam Phương Hoàng Hậu.

Nhân vật số một của Tứ đại phú hộ là Huyện Sỹ, người có tên khai sinh là Lê Nhứt Sỹ, sinh ra tại Sài Gòn trong một gia đình theo đạo Công giáo. Từ nhỏ ông đã được các tu sỹ người Pháp đưa đi du học ở Malaysia. Tại đây, ông đổi tên thành Lê Phát Đạt do tên cũ của ông trùng với tên một người thầy dạy.

Sau khi về nước, ông được Chính phủ Pháp bổ nhiệm làm thông ngôn, từ năm 1880 làm Ủy viên Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ. Dù đã đổi tên nhưng người quen vẫn gọi ông bằng tên cúng cơm, vì vậy mà cái tên Huyện Sỹ đã gắn bó với số phận của ông. Sự giàu có nhanh chóng của Huyện Sỹ - Lê Phát Đạt bắt đầu từ một việc trớ trêu. Khi người Pháp chiếm Nam Kỳ, dân cư tản mát, nhiều ruộng đất trở nên vô chủ, bán rẻ mạt mà không ai mua. Chính quyền thuộc địa ép Lê Phát Đạt, khiến ông bất đắc dĩ phải đi vay mượn mà mua liều. Không ngờ ruộng của ông trúng mùa liên tiếp mấy năm liền, khiến ông bỗng chốc phát tài. Dù nhiều tiền của nhưng ông không tiêu xài phung phí mà còn dạy người nhà thói cần kiệm.

Nhà thờ huyện Sỹ ở HCM.jpg
Nhà thờ Huyện Sỹ là một nhà thờ Công giáo cổ,
tọa lạc tại số 1 đường Tôn Thất Tùng, quận 1

Là người mộ đạo, ông đã dùng gia sản khổng lồ của mình để xây các nhà thờ bề thế ở Sài Gòn, là nhà thờ Huyện Sỹ và nhà thờ Chí Hòa ngày nay. Người con trai của ông là kỹ sư Lê Phát Thanh cũng bỏ tiền ra xây nhà thờ Hạnh Thông Tây, nay thuộc quận Gò Vấp.

Các con cái của Huyện Sỹ đều là những đại điền chủ sở hữu vô số đất đai ở Nam Kỳ lục tỉnh, nhận nhiều bổng lộc từ triều đình nhà Nguyễn dù không phải người hoàng tộc. Sau này, một người cháu ngoại của Huyện Sỹ là Nguyễn Hữu Thị Lan đã trở thành hôn thê của vua Bảo Đại, được biết đến với danh xưng Nam Phương hoàng hậu. Mức độ giàu có của gia tộc Huyện Sỹ được đồn thổi là lớn hơn rất nhiều lần so với vua Bảo Đại.

Sự giàu có của Huyện Sỹ ngày nay còn được thể hiện một cách rõ nét qua các công trình xây dựng mà ông để lại. Nổi bật số đó là nhà thờ Huyện Sỹ, công trình mà ông đã hiến 1/7 tài sản cá nhân để xây dựng. Nhà được khởi công xây dựng từ năm 1902 và đến năm 1905 hoàn thành theo thiết kế của linh mục Bouttier, tiêu tốn khoảng 30 ngàn đồng bạc Đông Dương thời bấy giờ.

Huyện Sỹ - Lê Phát Đạt qua đời năm 1900, trước khi ngôi nhà thờ tâm huyết của ông được xây dựng. Sau khi vợ của ông là bà Huỳnh Thị Tài mất năm 1920, con cháu đã đưa thi hài hai ông bà về chôn ở gian chái sau cung thánh của nhà thờ Huyện Sỹ. Nơi đây cũng đặt tượng của ông cùng vợ và các con. Ngày nay, nhà thờ Huyện Sỹ là một điểm đến thu hút khách du lịch, đặc biệt là đối với những ai muốn tìm hiểu về cuộc đời của đại gia giàu có bậc nhất Sài Gòn thời xưa.

Nhà thờ Hạnh Thông Tây - 53/7 Quang Trung, Q.Gò Vấp

Trước đây có một con đường ở phường 7, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh mang tên Lê Phát Đạt, gần nhà thờ Chí Hòa. Khoảng năm 2000, con đường này đổi tên thành đường Đặng Lộ.


Tổng đốc Phương - Đỗ Hữu Phương: Tiến thân nhờ theo Pháp

Nhì Phương là Đỗ Hữu Phương  sinh cuối tháng 6 năm 1841 tại Chợ Đũi (Sài Gòn) được phong hàm Tổng đốc nên còn gọi là Tổng đốc Phương, người gốc Hoa sinh tại Sài Gòn, ngoài chữ Hán ông còn nói giỏi tiếng Việt, nói được một ít tiếng Pháp.

Cha ông là một người giàu có, tục gọi là Bá hộ Khiêm. Ông này đã cưới con gái một vị quan người Quảng Nam vào Nam Kỳ làm Tri phủ (sau về hưu với chức Lang trung bộ Binh) và sinh ra ông.

Đỗ Hữu Phương (1841 - 1914), nhân vật số hai trong “Tứ đại phú hộ” sinh tại Sài Gòn, là con của Bá hộ Khiêm – một người giàu có của đất Nam Kỳ lúc đó. Ông được đánh giá là người rất khôn ngoan, có sự nghiệp gắn với chính quyền Pháp.

Năm 1859, khi quân Pháp tiến đánh Gia Định, Đỗ Hữu Phương lui về Bà Điểm, Hóc Môn lánh thân và chờ thời. Năm 1861, ông được nhận làm cộng sự của người Pháp với sự giới thiệu của cai tổng Đỗ Kiến Phước. Sài Gòn Chợ Lớn thời đó chia làm 20 hộ. Đỗ Hữu Phương được chính quyền cho làm hộ trưởng, từ đó lần lượt leo lên nhiều chức vụ khác nhau.

Chân dung tổng đốc Phương

Từ năm 1866 - 1868, Đỗ Hữu Phương chỉ huy hoạt động do thám phong trào chống đối Pháp và tham gia dẹp nhiều cuộc khởi nghĩa ở vùng Sài Gòn – Chợ Lớn và lân cận. So với những tay sai khác của Pháp, ông tỏ ra khéo léo và mềm mỏng, chủ trương tránh gây đổ máu, chuốc thù oán. Bằng sự khôn khéo của mình, ông đã thuyết phục nhiều nhân vật nổi dậy quy hàng, đồng thời xin chính phủ Pháp ân xá cho họ.

Dù vậy, Đỗ Hữu Phương tỏ ra rất không thương xót với những người nổi loạn cứng rắn. Ông đã thẳng tay trừng trị Thủ khoa Huân (Đỗ Hữu Huân) - một trong những bạn hồi thơ ấu, khi bị nhà lãnh đạo khởi nghĩa này bội tín. Bản thân Đỗ Hữu Phương đã có lần suýt chết vì sự chống trả của quân khởi nghĩa.

Với các công trạng của mình, Đỗ Hữu Phương tiếp tục thăng tiến. Đến năm 1872, ông trở thành hội viên Hội đồng thành phố Chợ Lớn và năm 1879 làm phụ tá Xã Tây Chợ Lớn cho Antony Landes.

Tận dụng chức vụ này, Đỗ Hữu Phương thường ngầm làm trung gian để giới thương gia người Hoa hối lộ cho các viên chức Pháp và bỏ túi những lợi nhuận khổng lồ. Ông giàu lên nhanh chóng, uy thế lớn đến mức quan Toàn quyền Paul Doumer cũng biết tiếng và ghé thăm. Lợi dụng cái bóng của Paul Doumer, ông thâu tóm được một diện tích đất ruộng lên đến 2.223 mẫu.

Trên đường quan lộ, Đỗ Hữu Phương vẫn thăng tiến như diều gặp gió, được thưởng tam đẳng bội tinh, thăng Tổng đốc hàm và nhận được nhiều ưu đãi khác. Năm 1881, ông gia nhập quốc tịch Pháp, các con đều được đưa sang Pháp du học.

Ông được người Pháp ca ngợi rằng: “Phương tích cực phục vụ cho sự nghiệp của nước Pháp, không chỉ với khả năng quân sự mà còn với sự hiểu biết tường tận về xứ này, đặc biệt là Chợ Lớn”. Trên thực tế, Đỗ Hữu Phương là một trong những tay sai đắc lực nhất cho các sĩ quan Pháp trong việc bình định xứ Nam Kỳ.

Ðỗ Hữu Phương mất năm 1914. Đám tang của ông được tổ chức rất trọng thể. Thi hài của ông được quàn nửa tháng mới chôn, mỗi ngày đón hàng trăm lượt khách viếng. Trâu, bò, lợn, gà được mổ liên miên để cúng và đãi khách.


Bá hộ Xường : Đại gia ngành thực phẩm

Tam Xường hay Bá hộ Xường, tên thật là Lý Tường Quan, tự Phước Trai, sinh năm 1842, mất năm 1896. Do ông còn có tên là Xường, lại rất giàu có nên người ta còn gọi là Bá hộ Xường, hay Hộ Xường. Bá hộ Xường là “đại phú hào” kinh doanh trên lãnh vực lương thực, cung cấp độc quyền mặt hàng cá, thịt cho Sài Gòn và các tỉnh. Ông được xếp ở vị trí thứ ba trong số bốn người giàu có nhất Nam Kỳ.

Cuộc đời và sự nghiệp của Bá hộ Xường - Lý Tường Quan được ghi chép lại rất ít, hầu hết chỉ còn lưu lại trong những giai thoại. Theo đó, Lý Tường Quan là người Minh Hương (Hoa Kiều trung thành với nhà Minh) chống lại nhà Thanh nên đến lánh nạn ở miền Nam Việt Nam.

Thông thạo cả tiếng Hoa lẫn tiếng Pháp, Lý Tường Quan trở thành thông ngôn cho Pháp và được chính quyền thực dân tin tưởng, trọng dụng. Tuy vậy, địa vị mà nghề thông ngôn mang lại không làm Lý Tường Quan thỏa mãn. Khoảng năm 30 tuổi, ông bỏ nghề này và nhảy vào thương trường.

Lĩnh vực mà Lý Tường Quan nhắm đến là cung cấp lương thực, thực phẩm cho Sài Gòn và các tỉnh lân cận. Biết tranh thủ thời cơ khan hiếm hàng hóa, lại giỏi lấy lòng quan Tây để được che chở, nâng đỡ, ông nhanh chóng trở thành đại gia số một trong lĩnh vực lương thực - thực phẩm lúc bấy giờ.

Với lợi nhận từ việc kinh doanh thịt cá, Bá hộ Xường bắt đầu mua đất xây cất biệt thự tại vùng Chợ Lớn để cho thuê và bán, gia sản lại càng được mở rộng.

Dinh thự của Bá hộ Xường rất bề thế, ngày nay tọa lạc trên đường Hải Thượng Lãn Ông, được nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố.

Một công trình khác ông để lại là khu nhà mồ cổ xây dựng năm 1896, hiện thuộc địa phận quận Tân Bình, TP HCM. Toàn bộ công trình tuy không đồ sộ nhưng rất khoáng đạt và tinh tế, là sự kết hợp của lối kiến trúc gôtich với phong cách Á Đông.

Bá hộ Xường qua đời năm 1896. Sau khi ông mất, hầu hết tài sản bị con cháu ăn xài, tiêu phí hết.


Bá hộ Định và các “ứng viên” khác

Trong câu truyền miệng trong dân gian “Nhất Sỹ, Nhì Phương, Tam Xường, Tứ Định”, nếu ba vị trí đầu tiên của Tứ đại phú hộ được phân định rõ ràng thì vị trí thứ tư lại có nhiều “phiên bản” khác nhau. Đôi khi “Tứ Định” được thay thế bằng Tứ Hỏa, Tứ Trạch hoặc Tứ Bưởi.

“Tứ Định” ở đây chính là bá hộ Định, một thương gia có tên thật là Trần Hữu Định. Ông vốn là chủ tiệm cầm đồ rồi được chính quyền Pháp cho làm Hộ trưởng kinh doanh đất đai, xuất nhập khẩu vải sợi, phất lên thành đại gia nhờ biết nắm thời cơ những lúc hàng khan hiếm, tương tự như bá hộ Xường. Và cũng giống bá hộ Xường, sau khi bá hộ Định mất, gia sản của ông bị con cháu tàn phá tan hoang.


Trong vị trí thứ tư của Tứ đại phú hộ, “Tứ Hỏa”, thường được gọi là Chú Hỏa, là nhân vật gắn với nhiều giai thoại về sự giàu có. Chú Hỏa (1845-1901) có tên thật là Hứa Bổn Hòa, có tổ tiên là người Hoa ở Phúc Kiến chống chính quyền mãn Thanh nên di cư sang Việt Nam. Vốn là người nhặt ve chai, Chú Hỏa đã trở nên giàu có một cách lạ kỳ.

Thiên hạ đồn rằng, khi đi nhặt ve chai Chú Hỏa đã nhặt được cả túi vàng nằm trong một chiếc ghế nệm cũ và dùng số vàng đó làm ăn rồi giàu lên nhanh chóng. Các phiên bản khác của giai thoại này thay túi vằng bằng bức tượng đúc đồng nhưng bên trong đầy vàng, hoặc những thứ đồ cực kỳ quý hiếm trong những món đồ vứt đi.

4 phú hộ lừng danh đất Sài Gòn giàu cỡ nào?
Khách sạn Majestic được chú Hoả xây dựng.

Rồi có cả những giai thoại cho rằng chú Hỏa an táng mộ cha đúng long mạch nên làm ăn phát đạt hay thừa hưởng cả một kho báu của nhà Minh để lại. Những giả thiết có phần thực tế hơn cho rằng Hỏa đã tích cóp để trở thành chủ đại lý ve chai, hoặc được một ông chủ người Pháp thương tình giúp đỡ, từ đó có vốn liếng để làm ăn.

Dù sự thật như thế nào thì Chú Hỏa đã chứng tỏ được mình là một nhà kinh doanh có tài. Ông là chủ nhân của công ty bất động sản Hui Bon Hoa, từng sở hữu trên 20.000 căn nhà ở Sài Gòn.

Công ty của Chú Hỏa đã xây dựng nhiều công trình có giá trị, còn tồn tại đến nay như Bảo tàng Mỹ thuật, Khách sạn Majestic, Bệnh viện Từ Dũ, Trung tâm cấp cứu Sài Gòn, khu nhà khách Chính phủ v..v.


Ngoài ra, “Tứ Trạch” trong Tứ đại phú hộ là Trần Trinh Trạch (1872-1942). Tương truyền, ông xuất thân nhà nghèo, đi làm mướn cho một điền chủ nhập tịch Pháp nên có vốn chữ nghĩa tiếng Pháp. Sau này, ông đi làm viên chức cho tòa hành chính tỉnh Bạc Liêu. Nhờ vốn kiến thức về luật pháp mà ông giàu lên nhờ thu mua tài sản điền địa của các địa chủ thất vận.

Trần Trinh Trạch được xem là một trong những đồng sáng lập Ngân hàng Việt Nam năm 1927- ngân hàng đầu tiên do chính người Việt Nam sáng lập và điều hành, trụ sở đặt tại Sài Gòn.

Người con trai thứ ba của ông chính là Công tử Bạc Liêu, một cậu ấm ăn chơi khét tiếng cả Nam Kỳ.


“Tứ Bưởi” trong Tứ đại phú hộ chính là Bạch Thái Bưởi, người được xem là nhà tư sản dân tộc tiêu biểu thời cận đại trong lịch sử Việt Nam.


Một số đại phú gia khác

Bên cạnh Tứ đại phú hộ, còn khá nhiều đại địa chủ và đại tư sản khác khá nổi tiếng như:
  • Quách Đàm (1863-1927) là một thương gia gốc Hoa, có công xây dựng nên Chợ Bình Tây.
  • Trương Văn Bền (1883-1956), người xây dựng thương hiệu Xà bông Cô Ba nổi tiếng.
  • Trần Chánh Chiếu (1868-1919), một đại điền chủ ở Nam Kỳ



mardi 3 mars 2015

PHONG TỤC : Tết Nguyên tiêu - Rằm Tháng Giêng


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận


Ngày Rằm tháng Giêng (15 tháng 1 âm lịch - 05/03/2015) còn gọi là Tết Nguyên Tiêu, là một trong những ngày rất quan trọng theo lịch âm của người Việt Nam. Việc cúng lễ trong ngày này phần lớn được tổ chức tại chùa, vì ngày rằm tháng giêng còn là ngày vía của Phật tổ. Vào ngày này, người Việt thường đi chùa lễ Phật để cầu mong quanh năm an lành cho bản thân và gia đình. Hoặc cũng có gia đình Việt Nam tụ tập ở nhà trưởng họ hay nhà thờ họ.



Nguồn gốc và ý nghĩa của Tết Nguyên Tiêu

Tết Nguyên Tiêu có nghĩa là đêm rằm đầu tiên của năm mới. “Nguyên” là thứ nhất, “tiêu” là đêm. Tết Nguyên Tiêu còn gọi là Tết Thượng Nguyên, bởi còn có Tết Trung Nguyên (Vu lan - rằm tháng bảy) và Tết Hạ Nguyên (rằm tháng mười). Trước đây, lễ rằm tháng Giêng còn thường gọi là Tết muộn bởi những gia đình khá giả tiếp tục ăn Tết và chơi mai, đào nở muộn; những người đi làm ăn xa ở lại qua ngày rằm tháng Giêng mới lên đường; những người không may đau yếu vào đúng dịp Tết, sau Tết đã khỏe mạnh trở lại hoặc nhiều gia đình tang ma có người chết vào dịp Tết Nguyên Đán, được ăn Tết bù... Vì vậy, từ lâu trong tâm thức người Việt, rằm tháng Giêng đã có ý nghĩa không khác gì ngày Tết Nguyên đán.

Đêm ngày rằm tháng Giêng âm lịch cũng là Tết Nguyên Tiêu cổ truyền của nhân dân Trung Quốc và Đài Loan, cũng gọi là Tết Hoa Đăng hay "Lễ hội đèn hoa" hoặc "Hội hoa đăng". Do đó những nơi có người Hoa sinh sống lễ đón rằm tháng Giêng thường treo đèn kết hoa, mọi người ra ngắm cảnh hoa đăng, đố câu đối... Ở Việt Nam, những nơi có đông cộng đồng người Hoa sinh sống như Chợ Lớn, Hội An cũng có nhiều sinh hoạt đặc biệt. Ở Philippines, có lễ hội diễu hành truyền thống vào ngày rằm tháng giêng, đánh dấu khởi đầu năm mới.


Về cội nguồn của Tết Nguyên Tiêu, dân gian có nhiều giải thích. Nhiều tài liệu viết phong tục này bắt nguồn từ thời Tây Hán ở Trung Quốc với lễ hội rước đèn lồng long trọng. Hồi đó, các cung nữ sau tết Nguyên Tiêu, đều nhớ nhà và nhớ cha mẹ, nhưng cung vua canh phòng cẩn mật, làm thế nào để ra gặp mặt cha mẹ? Đông Phương Sóc nhiều trí thông minh khi nghe được tin này, bày tỏ sự đồng tình, tìm cách giúp các cung nữ thực hiện nguyện vọng gặp mặt cha mẹ. Bước đầu tiên, Đông Phương Sóc tung tin, hỏa Thần sẽ cử người đến thiêu hủy thành Trường An, khiến trong nội thành hoang mang khiếp sợ.

Sau đó, Đông Phương Sóc hiến kế với vua Hán Vũ rằng, tối ngày Rằm mọi người trong cung phải đi lánh nạn ở ngoài cùng vua, các đường to ngõ hẻm, trước nhà sau sân trong nội thành đều treo đèn lồng đỏ, tạo nên cảnh giả thành Trường An lửa cháy hừng hực, nhờ đó đánh lừa Hỏa Thần.

Vua Hán Vũ đã đồng ý phương án này của Đông Phương Sóc, thế là các cung nữ nhân Tết Nguyên Tiêu thực hiện nguyện vọng gặp mặt người thân. Từ đó, cứ đến ngày rằm tháng Giêng đều phải treo đèn lồng.


Còn có truyền thuyết cho rằng, Tết Nguyên Tiêu bắt nguồn từ việc đồng áng trong dân gian. Vào ngày Rằm tháng Giêng hàng năm, công việc cày bừa của vụ chiêm sẽ bắt đầu, bà con nông dân ở các nơi đều khẩn trương chuẩn bị cho công việc đồng áng, đến tối ngày Rằm tháng Giêng, bà con nông dân ra đồng ruộng tập trung cây cỏ lá khô, châm lửa thiêu hủy để diệt sâu bọ.

Một số ý kiến khác cho rằng, Rằm tháng Giêng bắt nguồn từ hoạt động của Phật giáo. Rằm tháng Giêng chính là ngày vía Phật tổ Adiđà, ngày không chỉ dành riêng cho thiện nam tín nữ, mà còn là ngày của mọi người, của những đôi nam thanh nữ tú đến chùa cầu duyên.

Cũng có ý kiến cho rằng, ngày Rằm tháng giêng còn là ngày vía Thiên quan, trong dân chúng đây là dịp lên chùa cúng dâng sao giải hạn (hoặc cúng tại nhà), giải trừ tai ách, cầu nguyện an lành. Vào Rằm tháng Giêng, nhiều chùa lập đàn, tụng niệm và hồi hướng công đức đầu năm, mong cầu phát sinh an lành, hạnh phúc.

Đêm Rằm tháng Giêng đã trở thành nét sinh hoạt văn hóa truyền thống của dân tộc, thấm đẫm chất nhân văn ở cả thành thị lẫn nông thôn, đâu đâu cũng treo đèn, kết hoa, ngâm thơ, bình thơ.


Tập tục và lễ hội

Ở Trung Quốc và Đài Loan , Tết Nguyên Tiêu ,rằm tháng giêng được coi là ngày lễ thiêng liêng nhất đầu năm mới và tập tục đốt đèn trên cây nêu trước cửa nhà, chơi lồng đèn ngũ sắc, kéo dài từ 13 đến 17 tháng Giêng.

Ở Thái Lan lễ hội Rằm tháng Giêng là lễ Hội cúng dường đức Phật, đức Pháp và đức Tăng qua hình thức tụng Tam Tạng Kinh từ 07 đến 10 ngày

Ở Ấn độ quanh khu vực thánh địa nơi đức Phật ngồi đắc đạo dưới gốc Bồ đề nhiều quốc gia như Tích Lan, Miến Điện, Lào, Thái, Campuchia, Tạng truyền. Mở những pháp hội tụng Tam Tạng Pali cúng dường  đức Phật

Ở Việt Nam,  Tết Nguyên Tiêu hay Rằm tháng Giêng, phần lớn tổ chức tại chùa,


Bài văn khấn cúng Rằm Tháng Giêng
(ngày lễ Nguyên Tiêu, lễ Thượng Nguyên)


- Kính lạy chư vị Tôn thần cai quản khu vực này
- Kính cáo các vị chư gia Cao tằng Tổ khảo, Cao tằng Tổ tỷ, cùng chư vị tiền nhân họ...(ghi họ chủ nhà)
   Chúng con là:....................................................................
   Hiện nay ở tại...................................................................
   Cùng toàn gia kính bái
   Kính cẩn thưa rằng:
   Nay là tháng
   "Tam dương khai thái"*
   Rằm tháng Giêng
   "Vạn tượng canh tân"*
   Lung linh trong ánh trăng ngần
   Là ngày Thượng nguyên đón tết
   Một năm mới
   Nguyên tiêu hanh cát
   Đêm trăng vàng
   Dát bạc lung linh
   Phiêu diêu trong khói hương trầm
   Tiền tổ gia tiên đông đủ
   Nay chúng con
   Lòng thành tâm cỗ bàn đủ đầy
   Cùng hương hoa phù tửu dâng lên
   (Kể các thứ cúng)
   ........................................................................
   Xin kính thỉnh
   Cao tằng tổ khảo, tiên linh
   Cao tằng tổ tỷ, vị tiền
   Thụ hưởng!
   Toàn gia thỉnh nguyện thành tâm
   Tiên tổ ra ân ban phúc
   Cho quanh năm, hanh thông mọi việc
   Vạn sự làm luôn được gặp may
   Gia tiên đức cả cao dày
   Cháu con ghi tạc ơn này dài lâu.
                                        Cẩn cáo


Bảng các ngày lễ âm lịch quan trọng cho 10 năm: 2015 - 2024



Bình luận

Đến ngày Rằm tháng Giêng, người Việt lại ăn một cái Tết nữa, là Tết Nguyên Tiêu hay còn gọi là Tết Thượng Nguyên. Tết này tổ chức tại chùa và tại gia. Vào ngày Rằm tháng Giêng, các gia đình Việt sẽ tiếp tục làm cơm cúng thịnh soạn dâng lên bàn thờ gia tiên với quan niệm

“Giỗ tết cả năm không bằng ngày Rằm tháng Giêng”


Rằm Tháng Giêng ở Việt Nam tách khỏi quan niệm này và đưa vào ngày Tết Nguyên Tiêu ý nghĩa tôn giáo, bởi thế mà dân gian còn có câu

“Lễ Phật quanh năm không bằng ngày Rằm tháng Giêng”

Vào ngày này, người Việt sau khi hoàn tất việc cúng bái tại gia, thường lên chùa dâng hương và đặc biệt hay lên chùa vào lúc trời tối, khi trăng tròn đầu năm đã lên cao.

Dù kinh điển nhà Phật không nói đến ngày rằm Tháng Giêng nhưng trong dân gian thì đây là dịp thích hợp để lên chùa dâng sao giải hạn, ước nguyện điềm lành.


lundi 9 février 2015

PHONG TỤC : Những món ăn Tết bị kiêng kị theo quan niệm của người Việt


Trương Thanh Long
Sưu tầm - Biên soạn - Bình Luận



Nhiều món ăn Tết từ thịt chó, xôi trắng, cá mè, trứng vịt lộn … được ưa chuộng hàng ngày lại bị kiêng kị trong ngày đầu năm mới theo quan niệm truyền thống của cha ông từ xưa.


Thịt chó

Bên cạnh những món ăn Tết truyền thống không thể thiếu trong ngày đầu năm như bánh chưng xanh, giò, gà luộc…, có nhiều món ăn ngon hằng ngày lại bị “cấm cửa” vì bị cho là “kém may mắn”. Thịt chó Thịt chó là thức ăn giàu chất dinh dưỡng và là món “khoái khẩu” của nhiều người. Thậm chí, thịt chó coi được coi là “quốc hồn quốc túy”, là nét ẩm thực riêng có của người Việt Nam.


Thế nhưng, người ta quan niệm rằng ăn thịt chó vào đầu năm hay đầu tháng thì cả năm, cả tháng đó sẽ xui xẻo, không may mắn. Tuy vậy, thịt chó lại được coi là món giải xui nếu ăn vào cuối tháng.


Thịt vịt

Thịt vịt là món ăn kiêng kỵ vào dịp đầu tháng và đầu năm của người miền Bắc và miền Trung. Món ăn này bị xem là không tốt, kém may mắn, nhất là vào dịp đầu năm.


Người ta cho rằng, nếu ăn thịt vịt sẽ đen đủi, “tan đàn, xẻ nghé”. Thay vì sử dụng thịt vịt, người ta dùng thịt gà với ý nghĩa cát tường hơn. Giống như thịt chó, vào những ngày cuối tháng, món thịt vịt lại được xem là món ăn “giải đen”.


Trứng vịt lộn

Món trứng vịt lộn ngon và bổ dưỡng. Tuy nhiên, quan niệm của người miền Trung và miền Bắc rất kiêng ăn trứng vịt lộn đầu tháng, đầu năm.


Họ quan niệm rằng, nếu ăn trứng vịt lộn vào đầu tháng, đầu năm thì cả tháng, cả năm sẽ không được may mắn. Mọi thứ đều xảy ra trái với ý mình.


Mực

Mực cũng là loại thực phẩm có trong danh sách “đen” của cả ba miền Bắc, Trung, Nam. Nguyên nhân của điều này xuất phát từ quan niệm “đen như mực”  của ông cha ta từ nhiều năm trước.


Theo quan niệm, nếu ăn mực vào đầu năm thì cả năm sẽ đen đủi, ăn mực đầu tháng sẽ không may mắn. Thậm chí, nhiều bậc cha mẹ còn không cho con ăn mực trước ngày thi. Nhiều người kị ăn mực khi đi xa vì có công việc quan trọng.


Tôm

Nếu người miền Bắc không kiêng kỵ tôm vào ngày Tết thì người miền Nam lại rất ít sử dụng món ăn này. Người miền Nam cho rằng tôm đầu to và đi giật lùi, nếu ăn tôm vào đầu năm sẽ khó “đầu xuôi, đuôi lọt”. Mọi việc trong năm mới sẽ không thể thuận buồm xuôi gió, không thăng tiến và phát tài phát lộc được.


Cá mè

Người miền Bắc và miền Trung đều kiêng ăn cá mè đầu năm. Nhiều người cho rằng nguyên nhân là do chữ “mè” đi theo với chữ “mè nheo”.Hơn nữa, cá mè còn tanh và nhiều xương hơn các loại cá khác. Có lẽ vì thế, họ quan niệm loài cá này sẽ mang đến một năm đen đủi. Nhất là với người miền Trung, họ cho rằng ăn cá mè đầu năm thì cả năm sẽ bị “hãm tài”.


Chuối

Với người miền Bắc, chuối là loại quả không thể thiếu trên mâm ngũ quả thì với người miền Nam lại tránh ăn chuối những ngày đầu năm do sợ ảnh hưởng đến việc thăng tiến. Nguyên nhân là do chữ “chuối” nói lái đi sẽ thành “chúi” theo giọng miền Nam nghĩa là không thể ngẩng lên được. Cũng có người theo sách nho bảo ” tiền đàng bất khả thụ ba tiêu ” (Trước nhà thì không được trồng chuối). Và trái chuối cũng mang hình tượng không đẹp.



 Đu đủ

Người miền Bắc hoặc miền Nam đều quan niệm đu đủ là thứ không thể thiếu trong mâm ngũ quả, mang đến một năm đầy đủ, sung túc. Tuy nhiên, người miềnTrung lại kiêng ăn quả này. Họ coi trọng nguyên tắc liên tưởng theo ngữ nghĩa của tên gọi, nên cũng tránh những loại quả có tên "xui xẻo". Theo đó, không chọn quả đu đủ vì tên gọi này phát âm giọng miền Trung nghe gần như “thù đủ” với ý nghĩa không cát tường. Điều tương tự cũng diễn ra với quả lê và cam khi gọi lái thành “lê lết” và “ cam chịu”. Vì cái lẽ “quýt làm cam chịu”, mà trái cam không được bày biện trên mâm ngũ quả vào dịp Tết ở miền Nam.



Bình luận

Bên cạnh kiêng nhiều món ăn, người Việt còn kiêng cho lửa, nước do quan niệm cho đi may mắn; tránh nói giông hoặc nói xui như: "Chết rồi!", "Tiêu rồi!", kiêng làm vỡ bát đĩa, cãi vã; quét nhà... trong “3ngày Tết, 7 ngày Xuân", Những kiêng cử này tựu trung       đều phản ánh mong ước về một cuộc sống êm đềm, sung túc, may mắn cho cả năm. Ngày nay, dù khoa học công nghệ phát triển, quan niệm “Có thờ có thiêng - Có kiêng có lành” trong món ăn Tết vẫn tồn tại như một nét văn hóa tinh thần trong tâm hồn người Việt.


Mâm cỗ Tết

Mâm cỗ Tết đủ lệ bộ là 4 bát, 6 đĩa. Bốn bát gồm bóng  thập cẩm nấu với nước dùng gà, canh măng, chân giò hầm nấm và miến nấu lòng gà. Sáu đĩa là xôi, thịt gà luộc, thịt đông, đồ xào, giò lụa và dưa hành muối.


Mâm cỗ Tết có nhiều màu sắc hài hoà nhưng cũng thay đổi theo từng miền Nam-Trung- Bắc. Những món ngon thường thấy trong ngày tết cổ truyền của người Việt. Mỗi món ăn mang một hương vị và có ý nghĩa riêng của từng món. Các bạn hãy tìm hiểu và tự tay mình chế biến những món ăn ngon và hấp dẫn để góp phần thêm hương vị tươi vui trong không khí ngày xuân.


Xin xăm

Xin xăm là một hình thức tin vào các thẻ xăm có ghi lời sấm báo trước điềm lành hay dữ trong năm và thường cần có thầy cúng bàn xăm...


Ngày nay, giới trẻ đi chùa xin xăm chỉ mang tính chất giải trí và không còn mang màu sắc tôn giáo hay thần linh.


Ngày tối kỵ

Ngày mồng 5 tháng giêng Âm lịch là ngày tối kỵ trong năm người việt thường tin rằng ngày này không thích hợp cho xuất hành. Có câu ca dao của miền Nam như sau :

Mồng năm, mười bốn, hăm ba
Đi chơi cũng thiệt nữa là đi buôn !

Trong năm thì ngày mồng 5 đầu năm là ngày kị đối với nhiều người tin vào và điều này rất phổ biến trong Nam. Nhưng có người lại nói rằng đó là ngày Nguyệt kỵ, chỉ kiêng xuất hành mà thôi. Còn mở hàng, làm ăn, giao dịch vẫn có thể. Một số quan niệm đó ngày không tốt, nhưng có ý kiến cho rằng đó là ngày dành cho vua.


Khi 89% “ông đồ” viết sai chữ!

Mới đây, trung tâm Hoạt động Văn hóa Khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám đã tổ chức sát hạch những “ông đồ” sẽ được vào cho chữ thiên hạ tại hồ Văn (nằm trong Văn Miếu - Quốc Tử Giám) nhân dịp xuân Ất Mùi. Và kết quả đưa ra vào ngày 1/2/2015 đã khiến thiên hạ giật mình : Cuộc sát hạch có 2 phần, phần chữ Hán và phần quốc ngữ, thì 70% số “ông đồ” viết sai chữ quốc ngữ, còn phần sát hạch chữ Hán, chỉ có 11% đạt chuẩn, đủ điều kiện vào hồ Văn để cho chữ thiên hạ.

Người Việt có truyền thống yêu chữ, trọng chữ. Nên đầu xuân, ai cũng muốn “thỉnh” được một vài chữ ưng ý mang về, treo ở những chỗ trang trọng nhất trong ngôi nhà của mình. Đó là một nét văn hóa, một sinh hoạt văn hóa đẹp, và đó cũng chính là nguyên nhân hình thành “phố ông đồ” ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, dấu tích của trường đại học đầu tiên và duy nhất ở Việt Nam. Với người Việt, thì chữ Hán, dù đã qua thời hoàng kim (nếu tính từ khoa thi chữ Hán cuối cùng do triều Nguyễn tổ chức vào năm 1918, dưới triều vua Thành Thái) được gần 100 năm, nhưng vẫn được coi là một thứ chữ sang trọng.

Con số 89% số “ông đồ” giả đó, đã góp phần làm phong phú thêm cho những cái giả khác đang hiện hữu trên đất nước Việt Nam. Đó là tiến sỹ giả, thạc sỹ giả, cử nhân giả, bác sỹ giả.